Tụng Kinh Phổ Môn

Tụng Kinh Phổ Môn Nghĩa Việt, Có Chữ – Thầy Thích Trí Thoát

KINH PHỔ MÔN ( NGHĨA - CÓ CHỮ ) - THƯỢNG TỌA THÍCH TRÍ THOÁT TỤNG

NGHI THỨC TỤNG KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA
PHẨM QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT PHỔ MÔN
(KINH PHỔ MÔN – CẦU AN)
NGUYỆN HƯƠNG
(Tùy khóa lễ, có thể lược bớt)

(Vị Chứng minh hoặc Chủ lễ mật niệm 🙂
CHƠN NGÔN TỊNH PHÁP GIỚI :
Án lam. (7 lần)
CHƠN NGÔN TỊNH BA NGHIỆP :
Án ta phạ bà phạ, thuật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ thuật độ hám. (3 lần)

(Duy na chập chuông 2 cái, đánh 3 tiếng, chập¦¦ ¦¦ ¦¦
Vị Chứng minh hoặc Chủ lễ cầm 3 cây hương, quỳ ngay thẳng, kính cẩn, niệm lớn : )
Nam mô Ta Bà Giáo chủ Điều ngự Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, tác đại chứng minh. ¦ (1 xá)
Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di Đà Phật, tác đại chứng minh. ¦ (1 xá)
Nam mô Tây thiên Đông độ, Việt Nam Lịch đại Chư vị Tổ sư, tác đại chứng minh.¦ (1 xá)
Nguyện đem lòng thành kính,
Gởi theo đám mây hương,
Phảng phất khắp mười phương,
Cúng dường ngôi Tam bảo.
Thề trọn đời giữ đạo,
Theo tự tánh làm lành,
Cùng pháp giới chúng sanh,
Cầu Phật từ gia hộ,
Tâm Bồ đề kiên cố,
Chí tu học vững bền,
Xa bể khổ nguồn mê,
Chóng quay về bờ giác. ¦
Ngưỡng bạch chư Phật ba đời trong mười phương thế giới :
Tại chùa . . . . . . , nay có chư tín chủ . . . . . thành tâm sắm sửa hương đăng hoa quả làm lễ kỳ an. Cầu nguyện hồng ân Tam bảo, Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đại bi Linh Cảm ứng Quán Thế Âm Bồ tát xót thương gia hộ, chư Phật tử . . . . . . . . . . . . . . pháp danh . . . . . . . . . ,. . . tuổi. Và toàn thể gia quyến : bệnh tật thuyên giảm, tai nạn tiêu trừ, phước huệ trang nghiêm, thân tâm an lạc, vạn sự kiết tường, tùy tâm mãn nguyện.
Nguyện cùng tất cả pháp giới chúng sanh : tinh tấn tu hành, sớm thành Phật quả. ¦
(Nếu có cầu siêu …, thì cầu nguyện thêm)

Hương xông đỉnh báu,
Giới định tuệ hương,
Giải thoát, giải thoát tri kiến
quý khôn lường,
Ngào ngạt khắp muôn phương,
Thanh tịnh tâm hương,
Đệ tử nguyện cúng dường.
Nam mô Hương Cúng Dường Bồ tát
Ma ha tát. (3 lần) ¦¦ ¦

 ] œ

KỆ PHÁP VƯƠNG
Đấng Pháp vương vô thượng,
Ba cõi chẳng ai bằng,
Thầy dạy khắp trời người,
Cha lành chung bốn loài.
Quy y tròn một niệm,
Dứt sạch nghiệp ba kỳ,
Xưng dương cùng tán thán
Ức kiếp không cùng tận. ¦

QUÁN TƯỞNG
Phật, chúng sanh, tánh thường
rỗng lặng,
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn,
Lưới Đế châu ví đạo tràng,
Mười phương Phật bảo hào quang
sáng ngời,
Trước bảo tọa thân con ảnh hiện,
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.
¦(1 xá)

ĐẢNH LỄ TAM BẢO
Chí tâm đảnh lễ : Nam mô Tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam bảo. ¦ (1 lạy)
Chí tâm đảnh lễ : Nam mô Ta Bà Giáo chủ Điều ngự Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương lai Hạ sanh Di Lặc tôn Phật, Đại trí Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Đại hạnh Phổ Hiền Bồ tát, Hộ pháp Chư tôn Bồ tát, Linh sơn Hội thượng Phật Bồ tát. ¦ (1 lạy)
Chí tâm đảnh lễ : Nam mô Tây phương Cực Lạc Thế giới Đại từ Đại bi A Di Đà Phật, Đại bi Quán Thế Âm Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ tát, Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ tát, Thanh tịnh Đại hải chúng Bồ tát.
¦¦ ¦ (1 lạy)

KỆ KHEN LÒ HƯƠNG
Lò hương tỏa khói chiên đàn,
Mẹ con công chúa tai nàn thoát qua,
Lòng thành lửa chẳng bén da,
Một lời cầu Phật gần xa tỏ tường.
Nam mô Hương Vân Cái Bồ tát
Ma ha tát. (3 lần)¦

CHÚ ĐẠI BI
(Tùy khóa lễ, có thể lược bớt)
Nam mô Đại bi Hội thượng Phật Bồ tát. (3 lần) ¦
Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni.
Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da.
Nam mô a rị da, bà lô yết đế, thước bát ra da, Bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da.
Án, tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa.
Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da, bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà.
Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà dà, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha.
Án, a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô yết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ, di đế rị dạ.
Na ra cẩn trì, địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà dũ nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha.
Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta Bà ma ha a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha.
Na ra cẩn trì, bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lợi thắng yết ra dạ, ta bà ha.
Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da.
Nam mô a rị da bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ, ta bà ha.
Án, tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha. (3 lần) ¦¦ ¦
Nam mô Thập phương Thường trụ Tam bảo . (3 lần) ¦

KỆ KHEN PHẬT
Trên trời dưới đất không bằng Phật.
Thế giới đông tây không thể sánh.
Nhân vật xưa nay con biết rõ,
Tất cả không ai bằng được Phật.
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
(3 lần) ¦

KỆ KHAI KINH (2)
Phật pháp rộng sâu rất nhiệm mầu,
Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu.
Nay con nghe thấy chuyên trì tụng,
Nguyện tỏ Như lai nghĩa nhiệm mầu.
Nam mô Pháp hoa Hội thượng Phật
Bồ tát Ma ha tát. (3 lần) ¦

PHẬT NÓI
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA
PHẨM QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT PHỔ MÔN
(KINH PHỔ MÔN – CẦU AN)
Dịch chữ Hán : Pháp sư Tam tạng Cưu Ma La Thập
nước Dao Tần, đời Đông Tấn.
Dịch chữ Việt : Hòa thượng Thích Trí Tịnh.

1) BẠCH HỎI SỞ NHÂN : Lúc bấy giờ, ngài Vô Tận Ý Bồ tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bày vai hữu, chắp tay hướng Phật mà bạch rằng : “Thế tôn ! Ngài Quán Thế Âm Bồ tát do nhơn duyên gì mà tên là Quán Thế Âm ?”. ¦
2) THOÁT TÁM ĐIỀU NẠN : Phật bảo ngài Vô Tận Ý Bồ tát : “Thiện nam tử ! Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sanh chịu các khổ não, nghe Quán Thế Âm Bồ tát này một lòng xưng danh. Quán Thế Âm Bồ tát tức thời xem xét tiếng tăm kia, đều đặng giải thoát.
Nếu có người trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, dầu vào trong lửa lớn, lửa chẳng cháy đặng, vì do sức oai thần của Bồ tát này đặng như vậy.
Nếu bị nước lớn làm trôi, xưng danh hiệu Bồ tát này liền đặng chỗ cạn.
Nếu có trăm nghìn muôn ức chúng sanh vì tìm các thứ châu báu như : vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, trân châu … , nên vào trong biển lớn, giả sử gió lớn thổi ghe thuyền của kia trôi tấp nơi nước quỉ La sát, trong ấy nếu có nhẫn đến một người xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, thời các người đó đều đặng thoát khỏi nạn quỉ La sát. Do nhơn duyên đó mà tên là Quán Thế Âm.
Nếu lại có người sắp sẽ bị hại, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát tức thời dao gậy của người kia cầm, liền gãy từng khúc mà đặng thoát khỏi.
Nếu quỉ dạ xoa cùng La sát đầy trong cõi Tam thiên đại thiên muốn đến hại người, nghe người xưng hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, thời các quỉ dữ đó còn không có thể dùng mắt dữ mà nhìn người, huống lại làm hại đặng.
Dầu lại có người hoặc có tội, hoặc không tội, gông cùm xiềng xích trói buộc nơi thân, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, thảy đều đứt rã, liền đặng thoát khỏi.
Nếu kẻ oán tặc đầy trong cõi Tam thiên đại thiên, có một vị thương chủ dắt đoàn người buôn, đem theo nhiều của báu trải qua nơi đường hiểm trở, trong đó có một người xướng rằng : “Các thiện nam tử ! Chớ nên sợ sệt, các ông phải nên một lòng xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, vị Bồ tát đó hay đem pháp Vô úy thí cho chúng sanh, nếu các ông xưng danh hiệu Ngài thời sẽ đặng thoát khỏi oán tặc này”.
Đoàn người buôn nghe rồi, đều lên tiếng xưng rằng : “Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát !” ¦. Vì xưng danh hiệu Bồ tát, nên liền đặng thoát khỏi.
Vô Tận Ý ! Quán Thế Âm đại Bồ tát sức oai thần cao lớn như thế.
Nếu có chúng sanh nào nhiều lòng dâm dục, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát, liền đặng lìa lòng dâm ý dục.
Nếu người nhiều giận hờn, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát, liền đặng lìa lòng giận hờn.
Nếu người nhiều ngu si, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát, liền đặng lìa ngu si.
Vô Tận Ý ! Quán Thế Âm Bồ tát có những sức oai thần lớn nhiều lợi ích như thế, cho nên chúng sanh thường phải một lòng tưởng nhớ đến Ngài. ¦
3) TOẠI HAI ĐIỀU CẦU : Nếu có người nữ, giả sử muốn cầu con trai, lễ lạy cúng dường Quán Thế Âm Bồ tát, liền sanh con trai phước đức trí huệ; giả sử muốn cầu con gái, bèn sanh con gái có tướng xinh đẹp, vì trước đã trồng cội phước đức, mọi người đều kính mến.
Vô Tận Ý ! Quán Thế Âm Bồ tát có sức thần như thế. ¦
4) SO SÁNH CÔNG ĐỨC LỄ NIỆM : Nếu có chúng sanh cung kính, lễ lạy Quán Thế Âm Bồ tát, thời phước đức chẳng luống mất. Cho nên chúng sanh đều phải thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát.
Vô Tận Ý ! Nếu có người thọ trì danh tự của sáu mươi hai ức hằng hà sa Bồ tát, lại trọn đời cúng dường đồ ăn uống, y phục, giường nằm, thuốc thang. Ý ông nghĩ sao ? Công đức của người thiện nam, người thiện nữ đó có nhiều chăng ?”.
Vô Tận Ý thưa : “Bạch Thế tôn ! Rất nhiều”. Phật nói : “Nếu lại có người thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, nhẫn đến một thời lễ lạy cúng dường, thời phước của hai người đó bằng nhau không khác, trong trăm nghìn muôn ức kiếp không thể cùng tận.
Vô Tận Ý ! Thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, đặng vô lượng vô biên phước đức lợi ích như thế ”. ¦
5) MƯỜI CHÍN LOẠI THUYẾT PHÁP : Ngài Vô Tận Ý Bồ tát bạch Phật rằng : “Thế tôn ! Quán Thế Âm Bồ tát dạo đi trong cõi Ta Bà như thế nào ? Vì chúng sanh nói pháp như thế nào ? Sức phương tiện việc đó như thế nào ?”.
Phật bảo Vô Tận Ý Bồ tát : “Thiện nam tử ! Nếu có chúng sanh trong quốc độ nào đáng dùng thân Phật đặng độ thoát, thời Quán Thế Âm Bồ tát liền hiện thân Phật mà vì đó nói pháp.
Nơi đáng dùng thân Duyên giác đặng độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Duyên giác vì đó nói pháp.
Nơi đáng dùng thân Thanh văn đặng độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Thanh văn vì đó nói pháp.
Nơi đáng dùng thân Phạm vương đặng độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Phạm vương vì đó nói pháp.
Nơi đáng dùng thân Đế thích đặng độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Đế thích vì đó nói pháp.
Nơi đáng dùng thân Tự tại thiên đặng độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Tự tại thiên vì đó nói pháp.
Nơi đáng dùng thân Đại Tự tại thiên đặng độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Đại Tự tại thiên vì đó nói pháp.
Nơi đáng dùng thân Thiên đại Tướng quân đặng độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Thiên đại Tướng quân vì đó nói pháp.
Nơi đáng dùng thân Tỳ sa môn đặng độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Tỳ sa môn vì đó nói pháp.
Nơi đáng dùng thân Tiểu vương đặng độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Tiểu vương vì đó nói pháp.
Nơi đáng dùng thân Trưởng giả đặng độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Trưởng giả vì đó nói pháp.
Nơi đáng dùng thân Cư sĩ đặng độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Cư sĩ vì đó nói pháp.
Nơi đáng dùng thân Tể quan đặng độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Tể quan vì đó nói pháp.
Nơi đáng dùng thân Bà la môn đặng độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Bà la môn vì đó nói pháp.
Nơi đáng dùng thân Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di đặng độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di vì đó nói pháp.
Nơi đáng dùng thân phụ nữ của Trưởng giả, Cư sĩ, Tể quan, Bà la môn đặng độ thoát, Bồ tát liền hiện thân phụ nữ vì đó nói pháp.
Nơi đáng dùng thân đồng nam đồng nữ đặng độ thoát, Bồ tát liền hiện thân đồng nam đồng nữ vì đó nói pháp.
Nơi đáng dùng thân Trời, Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, Nhơn cùng Phi nhơn đặng độ thoát, Bồ tát liền đều hiện thân vì đó nói pháp.
Nơi đáng dùng thân Chấp Kim cang thần đặng độ thoát, Bồ tát liền hiện Chấp Kim cang thần vì đó nói pháp.
Vô Tận Ý ! Quán Thế Âm Bồ tát đó, thành tựu công đức như thế, dùng các thân hình, dạo đi trong các cõi nước để độ thoát chúng sanh, như thế cho nên các ông phải một lòng cúng dường Quán Thế Âm Bồ tát.
Quán Thế Âm Bồ tát đó, ở trong chỗ nạn gấp sợ sệt hay ban sự Vô úy, cho nên cõi Ta Bà này đều gọi ngài là vị Thí Vô Úy”. ¦
6) CÚNG DƯỜNG : Vô Tận Ý Bồ tát bạch Phật : “Thế tôn ! Con nay phải cúng dường Quán Thế Âm Bồ tát”. Ngài liền mở chuỗi ngọc bằng các châu báu, giá trị trăm nghìn lượng vàng nơi cổ, đem cúng dường cho ngài Quán Thế Âm mà nói rằng: “Xin Ngài nhận chuỗi trân bảo Pháp thí này”.
Khi ấy, Quán Thế Âm Bồ tát chẳng chịu nhận chuỗi. Ngài Vô Tận Ý lại thưa cùng Quán Thế Âm Bồ tát rằng : “Xin Ngài vì thương chúng tôi mà nhận chuỗi ngọc này”.
Bấy giờ, Phật bảo Quán Thế Âm Bồ tát: “Ông nên thương Vô Tận Ý Bồ tát này và hàng Tứ chúng cùng Trời, Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, Nhơn và Phi nhơn v.v… mà nhận chuỗi ngọc đó”.
Tức thời Quán Thế Âm Bồ tát thương hàng Tứ chúng và Trời, Rồng, Nhơn, Phi nhơn v.v… mà nhận chuỗi ngọc đó chia làm hai phần : một phần dưng đức Thích Ca Mâu Ni Phật, một phần dưng tháp của Phật Đa Bảo.
Vô Tận Ý ! Quán Thế Âm Bồ tát có sức thần tự tại như thế, dạo đi nơi cõi Ta Bà. ¦
7) TRÙNG TỤNG : Lúc đó ngài Vô Tận Ý Bồ tát nói kệ hỏi Phật rằng :
– Thế tôn đủ tướng tốt !
Con nay lại hỏi Kia,
Phật tử nhơn duyên gì,
Tên là Quán Thế Âm ?
– Đấng đầy đủ tướng tốt,
Kệ đáp Vô Tận Ý :
Ông nghe hạnh Quán Âm,
Khéo ứng các nơi chỗ,
– Thệ rộng sâu như biển.
Nhiều kiếp chẳng nghĩ bàn,
Hầu nhiều nghìn Đức Phật,
Phát nguyện thanh tịnh lớn.
– Ta vì ông lược nói :
Nghe tên cùng thấy thân,
Tâm niệm chẳng luống qua,
Hay diệt khổ các cõi.
– Giả sử sanh lòng hại,
Xô rớt hầm lửa lớn,
Do sức niệm Quán Âm,
Hầm lửa biến thành ao.
– Hoặc trôi giạt biển lớn,
Các nạn quỉ, cá, rồng,
Do sức niệm Quán Âm,
Sóng mòi chẳng chìm đặng.
– Hoặc ở chót Tu Di,
Bị người xô rớt xuống,
Do sức niệm Quán Âm,
Như mặt nhựt treo không.
– Hoặc bị người dữ rượt,
Rớt xuống núi Kim Cang,
Do sức niệm Quán Âm,
Chẳng tổn đến mảy lông.
– Hoặc gặp oán tặc vây,
Đều cầm dao làm hại,
Do sức niệm Quán Âm,
Đều liền sanh lòng lành.
– Hoặc bị khổ nạn vua,
Khi hành hình sắp chết,
Do sức niệm Quán Âm,
Dao liền gảy từng đoạn.
– Hoặc tù cấm xiềng xích,
Tay chân bị gông cùm,
Do sức niệm Quán Âm,
Tháo rã đặng thoát khỏi.
– Nguyền rủa các thuốc độc,
Muốn hại đến thân đó,
Do sức niệm Quán Âm,
Trở hại nơi bổn nhơn.
– Hoặc gặp La sát dữ,
Rồng độc, các loài quỉ,
Do sức niệm Quán Âm,
Liền đều không dám hại.
– Hoặc thú dữ vây quanh,
Nanh vuốt nhọn đáng sợ,
Do sức niệm Quán Âm,
Vội vàng bỏ chạy thẳng.
– Rắn độc cùng bò cạp,
Hơi độc khói lửa đốt,
Do sức niệm Quán Âm,
Nghe tiếng tự bỏ đi.
– Mây sấm nổ sét đánh,
Tuông giá xối mưa lớn,
Do sức niệm Quán Âm,
Liền đặng tiêu tan cả.
– Chúng sanh bị khổn ách,
Vô lượng khổ bức thân,
Quán Âm sức trí diệu,
Hay cứu khổ thế gian.
– Đầy đủ sức thần thông,
Rộng tu trí phương tiện,
Các cõi nước mười phương,
Không cõi nào chẳng hiện.
– Các loài trong đường dữ :
Địa ngục, quỉ, súc sanh,
Sanh, già, bịnh, chết khổ,
Lần đều khiến dứt hết.
– Chơn quán, thanh tịnh quán,
Trí huệ quán rộng lớn,
Bi quán và từ quán,
Thường nguyện thường chiêm ngưỡng,
– Sáng thanh tịnh không nhơ,
Huệ nhựt phá các tối,
Hay phục tai gió lửa,
Khắp soi sáng thế gian.
– Lòng Bi răn như sấm,
Ý Từ diệu dường mây,
Xối mưa pháp cam lồ,
Dứt trừ lửa phiền não.
– Cãi kiện qua chỗ quan;
Trong quân trận sợ sệt,
Do sức niệm Quán Âm,
Cừu oán đều lui tan.
– Diệu âm, Quán Thế Âm,
Phạm âm, hải triều âm,
Tiếng hơn thế gian kia,
Cho nên thường phải niệm.
– Niệm niệm chớ sanh nghi,
Quán Âm bực Tịnh thánh,
Nơi khổ não, nạn chết,
Hay vì làm nương cậy.
– Đủ tất cả công đức,
Mắt lành trông chúng sanh,
Biển phước lớn khôn lường,
Cho nên phải đảnh lễ ! ¦
8) TỔNG KẾT NGHE KINH ĐẶNG CÔNG ĐỨC LỚN : Bấy giờ, ngài Trì Địa Bồ tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật bạch rằng : “Thế tôn ! Nếu có chúng sanh nào nghe phẩm Quán Thế Âm Bồ tát đạo nghiệp tự tại, Phổ Môn thị hiện sức thần thông này, thời phải biết công đức người đó chẳng ít”.
Lúc Phật nói phẩm Phổ môn này, trong chúng có tám muôn bốn nghìn chúng sanh, đều phát tâm Vô đẳng đẳng, Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. ¦ ¦
chơn ngôn Kinh Diệu Pháp Liên hoa,
phẩm Quán Thế Âm Bồ tát Phổ môn :
Án, đa rị đa rị, đốt đa rị, đốt đốt đa rị, ta bà ha. (3 lần) ¦
CHƠN NGÔN SÁU CHỮ ĐẠI MINH :
Án, ma ni bát di hồng. (21 lần) ¦
KỆ KHEN PHỔ MÔN
Phổ môn hiện rõ ở Ta Bà,
Chúng sanh kêu cứu khắp gần xa,
Từ bi thuyết pháp tùy loài hiện,
Tám nạn ba tai chẳng đến nhà.¦
MƯỜI HAI NGUYỆN LỚN
(Tùy khóa lễ, có thể miễn lạy)

  1. Nam mô hiệu Viên Thông danh Tự Tại, Quán Âm Như lai, quảng phát hoằng thệ nguyện. ¦ (1 lạy)
  2. Nam mô nhứt niệm tâm vô quái ngại, Quán Âm Như lai, thường cư Nam Hải nguyện. ¦ (1 lạy)
  3. Nam mô trụ Ta Bà, U minh giới, Quán Âm Như lai, tầm thinh cứu khổ nguyện. ¦ (1 lạy)
  4. Nam mô hàng tà ma, trừ yêu quái, Quán Âm Như lai, năng trừ nguy hiểm nguyện. ¦ (1 lạy)
  5. Nam mô thanh tịnh bình thùy dương liễu, Quán Âm Như lai, cam lồ sái tâm nguyện. ¦ (1 lạy)
  6. Nam mô đại từ bi, năng hỷ xả, Quán Âm Như lai, thường hành bình đẳng nguyện. ¦ (1 lạy)
  7. Nam mô trú dạ tuần vô tổn hoại, Quán Âm Như lai, thệ diệt tam đồ nguyện. ¦ (1 lạy)
  8. Nam mô vọng nam nham, cần lễ bái, Quán Âm Như lai, già tỏa giải thoát nguyện. ¦ (1 lạy)
  9. Nam mô tạo pháp thuyền du khổ hải, Quán Âm Như lai, độ tận chúng sanh nguyện. ¦ (1 lạy)
  10. Nam mô tiền tràng phan, hậu bảo cái, Quán Âm Như lai, tiếp dẫn Tây phương nguyện. ¦ (1 lạy)
  11. Nam mô Vô Lượng Thọ Phật cảnh giới, Quán Âm Như lai, Di Đà thọ ký nguyện. ¦ ¦ (1 lạy)
  12. Nam mô đoan nghiêm thân vô tỷ tái, Quán Âm Như lai, quả tu thập nhị nguyện. ¦¦ ¦ (1 lạy)

KỆ KHEN QUAN ÂM
Quan Âm Bồ tát hiệu Viên Thông,
Mười hai nguyện lớn rộng mênh mông,
Cứu giúp mọi người trong biển khổ,
Từ bi độ chúng khắp non sông.
Nam mô Thánh Quan Tự Tại Bồ tát
Ma ha tát. (3 lần) ¦ ¦
KINH TÂM
MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA
Bồ tát Quán Tự tại, khi thực hành sâu xa pháp Bát nhã Ba la mật đa, thì Ngài soi thấy Năm uẩn đều Không, nên qua hết thảy khổ ách.
Này Ông Xá Lợi Tử ! Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc; Sắc tức là Không, Không tức là Sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế.
Này ông Xá Lợi Tử ! “Tướng Không” của mọi pháp : Không sinh, không diệt, không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt. Cho nên trong Chơn không – Không có Sắc, không có Thọ, Tưởng, Hành, Thức; Không có Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý; – Không có Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp; Không có Nhãn giới, cho đến không có Ý thức giới; Không có Vô minh, cũng không có cái hết Vô Minh; Cho đến không có Già Chết, cũng không có cái hết Già Chết; – Không có Khổ, Tập, Diệt, Đạo; – Không có Trí huệ, cũng không có chứng đắc.
Vì không có chứng đắc, nên Bồ tát nương theo Bát nhã Ba la mật đa, tâm không ngăn ngại, vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, xa lìa mộng tưởng điên đảo, đạt đến Niết bàn. Chư Phật trong ba đời cũng nương vào Bát nhã Ba la mật đa, được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Nên biết : Bát nhã Ba la mật đa là chú Đại Thần, là chú Đại minh, là chú Vô thượng, là chú Vô đẳng đẳng trừ được hết thảy khổ, chơn thật không dối.
Vì vậy, ngài nói bài chú Bát nhã Ba la mật đa liền nói chú rằng : Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề Tát bà ha. ¦

THẦN CHÚ VÃNG SANH

Nam mô A di đa bà dạ, Đa tha dà đa dạ, Đa điệt dạ tha. A di rị đô bà tỳ, A di rị đa tất đam bà tỳ. A di rị đa tỳ ca lan đế, A di rị đa tỳ ca lan đa. Dà di nị dà dà na, chỉ đa ca lệ ta bà ha. (3 lần) ¦¦ ¦

KỆ KHEN PHẬT DI ĐÀ (1)
Tướng Phật Di Đà sánh chẳng qua,
Sắc vàng sáng ánh tốt hơn hoa,
Bạch hào chiếu dịu năm non cả,
Thanh nhãn trong ngời bốn biển xa,
Trong sáng hóa ra vô số Phật,
Hiện hàng Bồ tát cũng Hằng sa,
Lợi sanh Bốn tám lời từ nguyện,
Chín phẩm Liên đài độ chúng ta. ¦
Nam mô Tây phương Cực Lạc Thế giới, Đại từ Đại bi, Tiếp dẫn Đạo sư A Di Đà Phật. ¦

Nam mô A Di Đà Phật. (10 lần) ¦
Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát. (3 lần) ¦
Nam mô Đại Thế Chí Bồ tát. (3 lần) ¦
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ tát (3 lần) ¦
Nam mô Thanh tịnh Đại hải chúng
Bồ tát. (3 lần) ¦¦ ¦

SÁM CẦU AN
Con quì lạy Phật chứng minh,
Hai hàng Phật tử tụng kinh cầu nguyền.
Cầu cho tín chủ hiện tiền,
Nội gia quyến thuộc bình yên điều hoà,
Thọ trường hưởng phước nhàn ca,
Phổ Môn kinh tụng trong nhà thảnh thơi,
Quan Âm phù hộ vui chơi,
Mười hai câu nguyện độ đời nên danh.
Thiện nam, tín nữ lòng thành,
Ăn chay, niệm Phật làm lành vái van.
Quan Âm xem xét thế gian,
Rước người chìm nổi mười phương phiêu trầm
Mau mau niệm Phật Quan Âm,
Tai qua nạn khỏi định tâm sáng lòa.
Đương cơn lửa cháy đốt ta,
Niệm danh Bồ tát hóa ra sen vàng.
Gió giông đi biển chìm thuyền,
Niệm danh Bồ tát sóng tan hết liền.
Tà ma quỉ báo khùng điên,
Niệm danh Bồ tát mạnh liền khôn ngoan.
Vào rừng cọp rắn nghinh ngang,
Niệm danh Bồ tát nó càng chạy xa.
Tội tù ngục tối khảo tra,
Quan Âm tưởng niệm thả ra nhẹ nhàng.
Bị trù bị ếm mê man,
Quan Âm niệm niệm vái van tịnh bình.
Quan Âm thọ ký làm tin,
Tuỳ duyên thuyết pháp độ mình hết mê.
Nương theo Bồ tát trở về,
Thấy mình ngồi gốc Bồ đề giống in,
Tay cầm bầu nước tịnh bình,
Tay cầm nhành liễu quang minh thân vàng.
Cam lồ rưới khắp thế gian,
Tốt tươi mát mẻ mười phương thanh nhàn.
Quan Âm cứu hết tai nàn,
Độ đời an lạc mười phương thái bình.
Quan Âm điểm đạo độ mình,
Quan Âm Bồ tát chứng minh độ đời.¦¦ ¦

KỆ HỒI HƯỚNG
Tụng kinh là hạnh tốt lành,
Vô biên phước đức sẵn dành chúng sinh.
Nguyện cho tất cả hàm linh,
Sớm về cõi Tịnh nghe kinh diệu huyền,
Nguyện tiêu ba chướng não phiền,
Cầu chơn trí huệ, phá xiềng vô minh.
Nguyện trừ tội chướng điêu linh,
Hạnh lành Bồ tát thường tinh tấn làm.
Nguyện sanh cõi Tịnh siêu phàm,
Hoa sen Chín phẩm sẽ làm mẹ cha.
Hoa nở thấy Phật hiện ra,
Vô sanh chứng ngộ, bạn ta Thánh Hiền.
Nguyện đem công đức hiện tiền,
Hướng về khắp cả các miền gần xa.
Con và cha mẹ ông bà,
Chúng sanh giác ngộ chan hòa Pháp thân
¦¦ ¦

PHỤC NGUYỆN

Nam mô A Di Đà Phật, ¦
Phục nguyện :
Ba thân ba cõi, nghìn mắt nghìn tay.
Cờ pháp gió bay, thuyền từ sóng vỗ.
Lòng thương cứu khổ, bi trí ban vui.
Cam lồ nếm mùi, tiêu tan bệnh tật.
Dương chi sái tịnh, sạch sẽ tội khiên.
Đất nước bình yên, nhân dân an lạc. ¦

Vừa rồi, chúng con một dạ chí thành, phúng tụng chơn kinh, có bao công đức, hồi hướng phương Tây, trang nghiêm cõi Tịnh,trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu ba đường khổ. ¦

Duy nguyện :
Cầu an chư Phật tử : . . . . . . . . . . . .
Phước huệ song tu, thân tâm an lạc, thường được kiết tường, xa lìa khổ ách, tinh tấn tu hành, sớm thành đạo quả. ¦

Thứ nguyện :
Cầu siêu chư hương linh …
Và cửu huyền thất tổ,
Nội ngoại hai bên,
Chiến sĩ trận vong,
Đồng bào tử nạn,
Nương nhờ Tam bảo,
Bước đến đạo tràng,
Nghe kinh nghe kệ,
Sớm thoát đường mê,
Sanh về Cực Lạc. ¦

Phổ nguyện :
Cửa thiền nghiêm tịnh,
Đại chúng an hòa.
Tín chủ được tam đa,
Đàn na thêm ngũ phước.
Âm siêu dương thới,
Pháp giới chúng sanh,
Đồng thành Phật đạo.

Nam mô A Di Đà Phật. ¦¦ ¦

BA TỰ QUY Y
Con về nương Phật,
Nên nguyện chúng sanh,
Tỏ ngộ đạo lớn,
Phát tâm vô thượng. ¦ (1 lạy)
Con về nương Pháp,
Nên nguyện chúng sanh,
Thấm nhuần tạng kinh,
Trí huệ như biển. ¦ (1 lạy)
Con về nương Tăng,
Nên nguyện chúng sanh,
Hòa hợp đại chúng,
Tất cả vô ngại. ¦¦ ¦(1 lạy)

Xem trọn bộ Kinh Pháp Hoa

Chia sẻ bài này với bạn bè

1 Trả lời to "Tụng Kinh Phổ Môn"

Bình luận