Dòng sông tâm thức: Duy thức luận

Vào thế kỷ 17 tây phương có trào lưu triết học về duy tâm và duy vật. Việc đấu tranh giữa hai phái nầy tạo ra xã hội loài người đi về một xã hội lý tưởng. Trong khi đó thế kỷ thứ 6 tại Ấn Độ đạo Phật đã có duy thức tức là duy tâm ra đời đó là duy thức luận. Nguồn gốc do Bồ Tát Vô Trước và người em là Thế Thân xiển dương coi như một cuộc cách mạng về đạo Phật. Người ta tự hỏi duy thức có mang lại sự giải thoát phiền não, lậu hoặc tham sân si là tiêu chí đức Phật sáng lập ra không? Khi vạn pháp duy thức do thức biến hiện, tam giới duy tâm. Như vậy vạn pháp chỉ là thức mà thôi thì ai chịu trách nhiệm của nghiệp lực? Ai tu tập ai chứng đắc ai tinh tấn ai thiền quán? Tất cả chỉ là một dòng tâm thức trôi lăn mãi mãi từ kiếp này sang kiếp khác. Đạo Phật Nguyên thủy dạy tu là chuyển hóa hết phiền não, giờ duy thức ra đời thân ta 5 uẩn cũng là thức và tâm tạo ra. Như vậy ta không có là ta, thì tâm thức ta có, là huyễn ảo chỉ là thức mà thôi. Sự tranh luận vật chất có trước hay tâm thức có trước, trong khi Phật dạy không có duy tâm mà cũng không có duy vật. Tất cả do duyên mà hiện hữu. Lăng nghiêm kinh bảo tâm thức tạo ra vạn pháp, rồi vạn pháp vận hành theo luật duyên khởi mà có. Nhờ duy thức mà ta hết tham sân si phiền não vì nó chỉ là thức mà thôi, thì ta chấp vào nó mà nỗi tham sân si làm gì? Duy thức dạy ta có một quan niệm đúng nhất về vạn pháp. Chúng là như thị không có cái ta xen vào, vì chúng sanh nhìn vạn pháp sai lầm nên duy thức dạy ta có cái nhìn đúng nhất. Vậy thức là gì? Tất cả cái gì chúng ta nhìn thấy, nghe thấy sờ thấy ngửi thấy, cảm nhận sự hiện hữu của nó do thức của ta mà ra. Căn hiệp trần tạo ra thức.Trần là trần cảnh làm đối tượng cho căn là cửa vào, của cơ thể ta để thức tạo ra trong đầu của chúng ta. Quan trọng là cái nó xuất hiện qua thức của ta mà hiện hữu thì nó có phải là thực sự là nó không? Duy thức gọi là Biến kế sở chấp, biến kế phân biệt. Biến nghĩa là phổ biến. Kế nghĩa là xét nghiệm, so đo. Theo Wikipedia: Duy thức tông (zh. 唯識宗, sa. vijñaptimātravādin, yogācārin, cittamātravādin) là tên gọi tại Đông Nam Á của một trường phái Phật giáo. Tại Ấn Độ và Tây Tạng, tông này được gọi là Thức tông, Thức học (sa.. vijñānavādin), hoặc Du-già hành tông (sa. yogācārin); tại Tây Tạng, người ta cũng gọi là Duy tâm tông (zh. 唯心宗, sa. cittamātrin). Đây là một trong hai trường phái chính của Phật giáo Đại thừa do hai Đại sư Vô Trước (zh. 無著, sa. asaṅga) và người em là Thế Thân (zh. 世親, sa. vasubandhu) sáng lập. Tương truyền rằng, chính Ứng thân (Tam thân) của Bồ Tát Di-lặc (zh. 彌勒, sa. maitreya) khởi xướng trường phái này ở thế kỉ thứ 4. Các đại biểu khác của phái này là Bandhusri (Thân Thắng), Citrabhàna (Hỏa Biện), Gunamati (Ðức Tuệ), Dignàga (Trần Na), Sthiramati (An Tuệ), Dharmakīrti (Pháp Xứng, học trò của Dignàga), Silabhadra (Giới Hiền, học trò của Dharmapàla). Khi sư Huyền Trang từ Ấn Độ trở về và phiên dịch các bộ luận chính của Duy thức tông ra tiếng Hán, phái Pháp tướng tông (phái tìm hiểu bản tính và hình dạng của các pháp) hình thành ở Trung Quốc và lan tỏa ra một số nước Đông Á. Chúng ta tìm hiểu tác động sâu xa của duy thức luận mà ngày nay nó được phổ biến cơ bản nhất của đạo Phật. Vì tánh chất trừu tượng và lý luận rất sâu rộng, nên chúng ta cần nghiên cứu học tập từ chánh văn kinh luận, được dẫn giải bởi các bậc trưởng bối đã tóm lược lại để cho dễ hiểu, rất ít danh từ hán việt. Duy thức luận không phải lời Phật giảng mà là luận, tức là gom lại các lời Phật giảng mà các vị tổ tạo thành luận. Đạo Phật có 3 luận nổi tiếng là Đại Thừa khởi tín, Trung quán và Duy thức luận.

Dòng sông tâm thức: Duy thức luận

Duy thức theo TT Thích Trí Siêu (youtube) giảng tại trung tâm Đuốc Tuệ California.

a. Pháp tướng: Pháp (dharma) là tất cả vạn vật xung quanh ta có đặc tính làm ta có khái niệm về sự hiện hữu của chúng. Tướng (form) là hình tướng ta thấy được, sờ được, cảm nhận được. Pháp tướng là các pháp có hình tướng về bản chất để ta khảo sát nó tránh nhận biết nó một cách sai lầm.

b. Tam lượng: Lượng là hình thái nhận thức, nhận rõ pháp. 1. Hiện lượng là các pháp hiện hữu như thị đúng đắn nhất, nó là nó không có gì ngoài nó, không có cái tôi xen vào. 2. Tỷ lượng là có tôi xen vào so sánh hơn kém. 3. Phi lượng là các pháp mang tính chất tưởng tượng sai lầm của thức ta. Phật giáo Nguyên thủy gọi là Như lý tác ý là vậy. Duy thức cho rằng chúng ta nhận biết sự vật là Phi lượng sai lầm, rồi so sánh Tỷ lượng chúng với nhau. Vì so sánh đưa đến vô thường vô ngã. Nên tu tập là quay về Hiện lượng nhận rỏ chúng không do cái ta xen vào.

c. Tam cảnh: Gồm có trần cảnh bên ngoài. Tánh cảnh là trần cảnh hiện tại. Đối chất là trần cảnh quá khứ. Độc cảnh là trần cảnh tương lai do tưởng tượng mà có.

d. Tam tánh: là 3 tự tánh của duy thức: 1. Biến kế sở chấp: còn gọi là Phân biệt tánh vọng tưởng vọng kế tự tánh, vọng phân biệt tánh, tự tánh giả lập. Dựa vào hình tướng thay đổi (biến) và so sánh (kế) các pháp ta nhận biết nó một cách không đúng sự thật. 2. Y tha khởi: còn gọi là duyên khởi tánh, tương thuộc tánh. Nương vào cái khác khởi sanh là cái biết tương đối, do tánh chất duyên sanh tương thuộc cái khác mà hiện hữu. 3. Viên thành thật tánh: còn gọi là đệ nhất nghĩa tánh, tự tánh tuyệt đối. Như vậy Viên thành thật tánh là Chân như, tánh Không, Như lai tạng tánh, Phật tánh, Phân thân tánh. Đại thừa cho rằng tánh này có sẵn nơi mỗi chúng ta là bản tánh giác ngộ của chúng ta. Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Viên thành thật tánh là không sanh diệt, không nhơ sạch, không tăng giảm, nó là tánh cuối cùng sau khi đi qua Y tha khởi tánh và đầu tiên là Biến kế sỡ chấp tánh.

e.Thức: là cái biết sự vật do 6 căn của ta tiếp xúc với 6 trần cảnh bên ngoài ta mà nảy sinh trong não bộ ta, cái biết này là 6 thức: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, xúc thức và ý thức. Có nghĩa là nó nhận thức biết được nên gọi là thức. Gồm có 4 tánh chất: 1. Kiến phần là chủ thể là cái ta, 2. Tướng phần là đối tượng nhận biết. 3. Tự chứng phần là tánh chất biết rõ giữa chủ thể và đối tượng. 4. Chứng tự chứng phần là tánh chất sau cùng của Thức là cái biết thứ hai sau cái cái biết tự chứng phần. Tôi biết rằng tôi biết rõ đối tượng. Thức này là thức giác ngộ của ta.

f. Ý Thức: Kiến phần của ý thức còn gọi là thức số 6 do 5 thức đầu gom tụ vào. Kiến phần ý thức gồm có 2 tánh chất: Độc đầu và Ngủ câu. Độc đầu là tán vị tức là nghĩ lung tung, trông mộng là ngủ mơ mộng mà thấy biết, trong điên là biết rõ và trong định là thiền định. Ngủ câu là 5 thức đầu tiên phối hợp chúng lại đưa vào Ý thức. Tánh chất cuối cùng ý thức là phân biệt ngã chấp là so sánh do cái tôi xen vào. Ý thức tạo ra bởi làn sóng của não bộ gồm có:

– Sóng DELTA (dưới 4Hz) có độ dài nhất và xảy ra phần lớn trong giấc ngủ sâu.

– Sóng THETA (5-8 Hz) thấy nhiều nơi trẻ em và người lớn buồn ngủ, thường là lúc đi vào giấc ngủ.

– Sóng ALPHA (8-12 Hz) là trạng thái tâm thư giản, không khởi niệm.

– Sóng BETA (12-30 Hz) có tầm hoạt động nhanh và thấp và mang đặc tính của tâm bận rộn.

– Sóng GAMMA (30-100 Hz) có tần số cao nhất và được cho là tiêu biểu cho sự đồng bộ của các vùng não khác nhau vì thực hiện một vài chức năng nhận biết hoặc vận động.

g. Mặc na: Còn gọi là truyền tống thức vì nó luân chuyển giữa Ý thức vào A lại da thức. Mặc na là nguyên nhân của luân hồi. Và Mặc Na còn là thức chấp ngã mạnh nhất là chính ta là chấp vào kiến phần của A lại da. Mặc na có tướng phần là kiến phần A lại da và đối chất cảnh. Mặc na còn gọi là Câu sanh ngã chấp tức là khi sanh ra nó đã có mang theo sẵn rồi.

h. A lại da: Còn gọi là Tàng thức là thức chứa đựng tất cả các chủng tử nên gọi là năng tàng, chứa căn thân và thế giới chung quanh ta. Kiến phần A lại da gồm có năng tri và năng biến còn tướng phần A lại da gồm có: thể giới chung quanh ta và căn thân bản thân ta. Căn thân ta thì tạo ra chánh báo còn thế giới chung quanh ta thì tạo ra y báo. A lại da của mình có thể hiểu là có nhiều hành lang với A lại da người khác bởi đường nối kết với nhau. Đó là lý do khi đức Phật giác ngộ đã có minh thứ 1 là nhìn thấu vào A lại da của Phật để biết bao nhiêu kiếp trước Phật làm gì ở đâu. Minh thứ hai là nhờ A lại da của Phật kết nối với A lại da của các người khác mà biết được kiếp trước của họ làm gì ở đâu. Chúng ta chưa giác ngộ thì chưa thể nhìn vào thấy được gì ở A lại da của mình. Nơi đó chứa đựng các chủng tử hạt giống vừa hữu lậu và vừa vô lậu. A lại da còn có tánh chất sở tàng, ngã ái chấp tàng và hằng chuyển chủng tử. Năng tàng là có tính chứa đựng, sở tàng là vật bị chứa đựng, ngã ái chấp tàng là yêu thích cũa cái tôi chấp vào đó của Mặc na chuyển qua. Cuối cùng A lại da có tánh hằng chuyển là luôn luôn chuyển hóa chủng tử. Ý thức thì suy luận nên học tập và tu tập. Mặc na thì chấp ngã và yêu ghét và ghi nhớ quá khứ. A lại da thì chỉ là nơi chứa đựng là mảnh đất rộng thênh thang chứa chủng tử và làm nơi cho chủng tử sinh nở hay diệt mất , nó là nơi Mặc na yêu bám chặt vào nó xem nó như mẹ sinh ra mặc na. Nó hằng chuyển các chứng tử là chúng tự thay đổi nhưng luôn luôn là nó không đổi khác nó, nó chỉ lớn thêm lên thôi. A lại da cũng là căn bản thức cho tất cả các thức xuất hiện từ thế giới bên ngoài và căn thân chúng ta. Nó có năng tri là gìn giữ và năng biến hiện. A lại da còn gọi là Dị thục thức: là thức về chín mùi của chủng tử. Giống như Vi Diệu Pháp gọi là hữu phần thức. Cũng như gọi là Nhất thiết chủng tử. Dị thức có 3 cách làm chín mùi chủng tử: Dị thời nhi thục là căn cứ vào thời gian mà chủng tử chín mùi. Dị loại nhi thục là tánh chất chủng tử thay đổi và Biến dị nhi thục là biến đổi hình dáng chủng tử.

i. Chủng tử: Là hạt giống do tất cả ý thức hoạt động đưa vào qua Mặc na rồi vào A lại da. Chủng tử có tánh chất kiến phần: năng tri và năng biến, còn tướng phần nó là thế giới chung quanh ta và căn thân của ta. Tánh chất chủng tử gồm: thời gian gồm có bản hữu là có sẵn, tân huấn là mới đưa vô, huân trưởng là lớn lên phát triển tạo thành tập khí, tập khí nầy nhiều quá thì nó tự động hoạt động làm chủ. Tánh chất chủng tử là hữu lậu là phiền não và vô lậu hết phiền não. Nhân quả: Chủng tử sinh chủng tử có nghĩa là trong kho A lại da chủng tử chín mùi nảy sinh ra chủng tử mới. Kế đến chủng tử sinh hiện hành là chủng tử lộ ra ngoài như hạt giống lộ ra mầm cây. Kế tiếp hiện hành sinh hiện hành là mầm của chủng tử lớn dần lên tăng trưởng thêm lên. Cuối cùng hiện hành huân chủng tử là thân lớn của cây phát sinh ra hạt giống. Tức là tập khí huân tạo thành các chủng tử mới.

j. Nghiệp: Gồm có 3 nghiệp nhân: thân khẩu ý. Có 2 nghiệp quả: chánh báo là chính thân căn ta báo và y báo là ngoại cảnh trần cảnh báo. Có 4 nghiệp dẫn đi tái sinh: cực trọng nghiệp, cận tử nghiệp, tập quán nghiệp, tích luỹ nghiệp.

k.Tự biến Cộng biến: Tự biến là chủng tử liên hệ trực tiếp với ta không có dính với ngoài ta nên tạo ra biệt nghiệp. Cộng biến là có bên ngoài liên hệ với ta nên tạo ra cộng nghiệp. Tự biến đưa đến chánh báo, cộng biến đưa đến y báo. Có 4 tánh chất như: Thuần tự biến, thuần cộng biến, tự biến nhiều hơn cộng biến, cộng biến nhiều hơn tự biến. Với kết quả cộng nghiệp và biệt nghiệp, cái nào nhiều thì sẽ có quả của nó.

l. Tâm sở: Tâm gồm 8 tâm vương theo 8 thức và tâm sở. Là hiện tượng tâm lý của tâm. Tâm sở có 51 tâm sở chia ra 5 loại như sau: biến hành 5 tâm, biệt cảnh 5 tâm, thiện 11 tâm, bất thiện 26 tâm, bất định 4 tâm.

m. Vô thường: Vô thường xảy ra từng sắc na trong vạn pháp.Duy thức cho rằng chúng ta phải chấp nhận điều ấy.

 a- Vô Tánh Vô Thường, vì là tánh thường không. 

 b- Khởi tận vô thường, vì có sanh có diệt. 

 c- Cấu tịnh vô thường, vì địa vị chuyển biến khi cấu khi tịnh.

n. Tiến trình tu đạo: công thức tu tập là trừ bỏ Biến kế sở chấp rồi quán chiếu Y tha khởi sau cùng đạt được Viên thành thật. Để đạt được mục tiêu đó, chúng ta cần đi qua nhiều giai đoạn. Đầu tiên là học tập 3 tự tánh của duy thức: Biến kế sở chấp, Y tha khởi, Viên thành thật. Khi học tập hiểu sâu rộng 3 giai đoạn của tiến trình của thức, chúng ta hiểu rằng vì các pháp do biến kế mà chúng ta chấp vào nó cho nó cái tên sự hiện hữu, rồi quán chiếu chúng do duyên mà ra và sau cùng diệt bỏ hết cả hai thì đắt viên thành thật. Nhưng chúng ta phải hiểu 4 nhân duyên gồm có: 1. Nhân duyên quả tức là nhân cần có duyên ở giữa mới trổ ra quả. 2. Tăng thượng duyên là cần có điều kiện nhân duyên mới tăng trưởng và trổ ra theo thuận hay nghịch. 3. Sở duyên là cái ta thương ghét xen vào có đối tượng của trần cảnh. Sau cùng là 4. Đẳng vô gián đoạn duyên là điều kiện cho chủng tử tất cả không bị gián đoạn tăng trưởng. Kế đến là chuyển y tha khởi là tiêu trừ vọng tưởng y tha khởi vì đó là sự sai lầm chúng ta nhìn vạn pháp. Sau đó đạt được giác ngộ có 4 tri túc đạt viên thành thật. Thức đầu đắc quả Thành sở tác trí gồm 5 giác quan đắc thần thông như thiên nhãn thông…Ý thức đắc thành Diệu quan sát trí. Mặc na thức đắc thành Bình đẵng tánh trí tức là mình và người không còn phân biệt luôn luôn bình đẵng từ bi. A lại da thành Đại viên cảnh trí là cảnh là gương sáng tỏ rộng viên tròn đắc đạo. Thức cuối cùng là Bạch tịnh thức là đại giác ngộ nên còn gọi là thức số 9. Tu duy thức là gì? Là tu thành Phật sau khi thành 10 địa vị Bồ Tát. Bằng văn tư tu là gia hạnh rồi đi đến kiến đạo là tâm và trần cảnh là một hòa nhập không phân biệt rồi tu thành 10 địa vị Bồ tát và Phật quả. Thực tế là chuyển chánh báo y báo từ bất thiện thành thiện, đưa chủng tử thiện vào A lại Da, rồi tưới tẩm cho nó phát triển. Tất cả là do ý thức mà tu tập. Chuyển hóa các chủng tử bất thiện bằng quán chiếu từ bi. Câu kết của Hoa nghiêm kinh : Tâm như công họa sư, Họa chủng chủng ngủ ấm. Nhất thiết thế gian trong, vô pháp như bất tạo. Tâm như nhà họa sĩ vẽ tranh tài giỏi. Vẽ ra đủ loài sinh mạng. Tất cả có trong thế gian thì không có pháp nào mà nó không làm được. Tương tự Nguyên thủy là Tứ chánh cần.

Duy thức trong đời sống: theo Tagawa Shun’ei.

 CHỈ LÀ THỨC BIẾN: Theo Duy Thức Học Phật giáo, vật gì ta đang nhận biết là những hình ảnh sự vật bên ngoài đã bị thức biến và phản chiếu lại trên tâm chúng ta. Như thế, chúng ta thấy nghe những sự vật (các pháp) thế gian không phải đích thực như chúng đang là. Mọi sự vật chung quanh chúng ta đều bị thức biến hiện. Đó là sự tiếp cận căn bản của Duy Thức để chúng ta hiểu được mối liên lạc giữa mình và ngoại cảnh. Đây là bốn khía cạnh của 1- vật được nhận biết (Tướng phần),2- cái nhận biết (Kiến phần),3- xác nhận điều nhận biết (Tự chứng phần),4- sự nhận biết điều xác nhận đó (Chứng tự chứng phần).

BA LOẠI ĐỐI TƯỢNG ĐÃ BỊ BIẾN HIỆN: Ba loại này đã được sử dụng để làm sáng tỏ đặc tính những đối tượng đã được biến hiện: 1- Đối tượng như chúng đang là (hình ảnh thuần túy giác quan): tánh cảnh.2- Đối tượng chỉ là ảo giác: độc ảnh cảnh, 3- Đối tượng hiện ra biến thể từ tánh cảnh nhưng bị nhận thức sai lạc : đới chất cảnh.

Cấu Trúc của Tâm: T M THỨC BỀ MẶT VÀ TIỀM THỨC: các nhà Duy Thức nói rằng những đối tượng được nhận biết thật sự đã bị tâm chúng ta biến hiện, và sau đó phản chiếu lại trên tâm những hình ảnh tương tự những đối tượng đó. Hành giả Duy Thức suy xét kỹ càng sự hình thành và chức năng của tâm thức, tin rằng phải có một tầng lớp tâm sâu xa hơn luôn luôn gây ảnh hưởng lên ý thức hằng ngày và đồng thời làm tầng lớp nền của tâm. Như thế, các vị ấy thừa nhận một vùng tiềm thức của tâm gồm hai lớp tâm thức là Mặc na và A-lại-da thức. Cả năm thức tương ứng với thấy, nghe, ngửi, nếm, và xúc chạm – nói một cách khác, mỗi hoạt động xảy ra của năm giác quan đều tương ứng với mỗi giác quan. Năm thức này có chung một nét đặc trưng là chỉ có thể nhận ra đối tượng hiện hữu như đang là. Thức thứ sáu, ý thức suy nghĩ, hoạt động đồng thời với tiền ngũ thức. Thuần túy nhận diện đối tượng như đang là, và biết rằng “đây là đóa sen đỏ thắm, có hương thơm tuyệt vời” là chức năng của ý thức. Trong khi tiền ngũ thức bị hạn chế chỉ nhận thức đối tượng trước mắt như đang là thì thức thứ sáu, lúc hoạt động trong khuôn khổ hiện tại, vẫn có thể phản ảnh quá khứ cũng như tiên đoán tương lai. Trong Duy Thức Học, tâm gọi là A-lại-da thức được cho là tâm căn bản nhất, vùng tâm thức giải thích sự liên tục kéo dài từ quá khứ đến tương lai. Thực ra, có một “cái tôi” thay đổi trên cơ sở hằng ngày. Nhưng kinh nghiệm cho chúng ta biết rằng “cái tôi” của ngày hôm qua thì hầu như cũng là “cái tôi” của ngày hôm nay, và không có sự thay đổi giữa “cái tôi” của năm ngoái và “cái tôi” ngày hôm nay. Đương nhiên là chúng ta cảm thấy như thế. Điều được gọi là ngã thayđổi-mà-không-thay-đổi là điều chúng ta cho là nền tảng của chúng ta, căn cứ trên đó sự ổn định đời sống được duy trì. Và nền tảng đó là A-lại-da thức. Các nhà Duy Thức bắt đầu phỏng đoán cấu trúc của tâm gồm tám thức, phân bổ thành hai tầng thâm sâu là Mặc na và A-lại-da thức, và sáu tầng bề mặt gồm nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Như đã nhận thấy, tâm của chúng ta có chức năng thể hiện trong tâm đối tượng nhận biết như là “hình ảnh.”Trong khả năng rất quan trọng này, tâm không những chỉ được xem là tâm, mà còn là tâm thực thi biến hiện. Tâm là chủ thể biến hiện gồm ba tầng lớp.Tâm tác nhân biến hiện đầu tiên là A-lại-da thức. A-lại-da thức lưu giữ tất cả những kinh nghiệm của chúng ta một cách không sai lạc, nhận diện và đặt để ngữ cảnh thích hợp cho sự vật khi nhận diện. Những kinh nghiệm của chúng ta, tùy theo chiều sâu và ý nghĩa trong đời sống, rất khó xóa bỏ.Tác nhân biến hiện thứ hai là Mặc na. Trong trường hợp này, đối tượng của sự nhận thức được biến hiện bởi một dính mắc sâu xa vào cái ngã, và do đó có khuynh hướng bảo vệ và tăng cường ngã chấp

Chức Năng của Tâm: T M VƯƠNG VÀ T M SỞ : Trong Duy thức, cốt lõi của tâm vương cơ bản trước hết phải (hiểu) là để nhận ra khía cạnh chủ yếu hay tổng quát của sự vật, sau đó gây ra sự phân biệt, nhận thức rời rạc. Tâm-vương-như-là-thể, trước tiên thể hiện một loại nhận thức tổng quát, và khi bắt đầu hoạt động, những tâm hành khởi lên và bắt đầu quan sát đối tượng kỹ lưỡng, đồng thời tạo ra những ý nghĩ khác nhau. Duy Thức cho là có 51 tâm sở, được phân thành 6 loại chính. Như đã giải thích trong Bách Pháp Minh Môn Luận, những tâm sở này được sắp xếp như sau: 1- Tâm sở biến hành: tác ý, xúc, thọ, tưởng, tư. 2- Tâm sở biệt cảnh: dục, thắng giải, niệm, định, tuệ. 3- Tâm sở thiện: tín, bất phóng dật, quý, tàm, vô tham, vô sân, vô si, khinh an, tấn, hành xả, bất hại. 4- Tâm sở phiền não: tham, sân, mạn, si, nghi, ác kiến. 5- Tâm sở tùy phiền não: phẫn, hận, não, phú, cuống, siểm, kiêu, hại, tật đố, xan, vô quí, vô tàm, bất tín, giải đãi, phóng dật, hôn trầm, trạo cử, thất niệm, bất chánh tri, tán loạn. 6- Tâm sở bất định: thụy, hối, tầm, tứ.

TÍCH LŨY KINH NGHIỆM: TRONG VÙNG TIỀM TÀNG CỦA T M: Chúng ta hiểu là dù cho có vẻ như hoạt động liên tục, thật ra thức suy nghĩ thường bị gián đoạn và chỉ tồn tại như những mảnh rời rạc. Nếu không có một cơ cấu tâm ráp những mảnh đó lại với nhau, chúng ta không thể nào hiện hữu như những con người hợp nhất. Thức A-lại-da cần thiết để “dự phòng” cho một đời sống tỉnh thức. Những hành động và thái độ của chúng ta có liên quan trực tiếp đến sự tương tác với người khác. Hành động xong, chúng ta có thể chắc chắn rằng có sự đánh giá theo một cách nào đó, và chúng ta cũng có thể chắc chắn là những tác động dội lại từ những hành động đó sẽ in dấu trong nếp sống xã hội tới một mức nào đó, dù được gán cho là “thành tựu tuyệt vời” hay “tội ác.” Rõ ràng trong cả hai trường hợp chúng ta đều bị sự đánh giá của xã hội chi phối và đóng dấu; chỉ có sự đánh giá này khi hành động của chúng ta được nhìn qua con mắt của người khác. Vậy điều gì xảy ra khi những hành động tiêu cực của chúng ta không ai biết đến? Vì không ai theo dõi nên thủ phạm của những việc làm xấu ác cho rằng hắn sẽ không bị xã hội phán đoán. Sau đó hắn sẽ nghe người ta nói những câu như “có những tên bất lương đang quanh quẩn đâu đây, phải không?” Đóng vai khờ khạo, sau lưng mọi người hắn chế nhạo họ, và thế là hết chuyện. Trên bình diện xã hội, vụ này đã xong. Nhưng cuối cùng điều gì sẽ xảy ra trong tâm một người như thế? Trong ba nghiệp thức của thân, khẩu và ý, chỉ có những ý nghĩ là không liên hệ với hai nghiệp kia vì xảy ra trong tâm chúng ta như là ý nghiệp. Tuy nhiên, trong đạo Phật, ngay cả những ý nghĩ xảy ra trong tâm chúng ta cũng được hiểu là có một chức năng kỳ diệu. Điểm này nhà Duy thức đặt câu hỏi cái gì đích thực là bản chất của điều gọi là những hành động của chúng ta. Câu kết luận là những sự sắp xếp mỗi hành động cuối cùng để lại dấu ấn trong A-lại-da thức, nơi đó hậu quả những hành động chúng ta được lưu giữ. Khi tìm hiểu sâu về những mặt của Tạng thức tới ngọn ngành, chúng ta không thể làm gì khác hơn là cuối cùng đi tới một kết luận rằng từ giờ trở đi phải vạch một đường đi cho cuộc đời mình theo hướng tích cực nào đó. Duy Thức Học Phật Giáo đòi hỏi chúng ta tìm đường đi cho đời sống chúng ta căn cứ trên sự nhận thức và tỉnh giác như thế. Bằng cách thừa nhận A-lại-da thức hiện hữu, Duy Thức Học Phật Giáo nhấn mạnh rằng một đời sống với thái độ thiếu chánh niệm không thể chấp nhận được. “Huân tập chủng tử” có nghĩa giống như khi một mùi thơm được truyền ngấm vào quần áo, hành động của một người tạo nên những dấu ấn và những khuynh hướng được gieo trồng vào vùng sâu nhất trong tâm người đó, và được lưu giữ ở đó. Những dấu ấn này thẩm thấu vào Tàng thức, và khi được trồng xuống gọi là chủng tử vì có năng lực tạo ra hình tướng cho bản thân sau này. Những chủng tử này, đã được âm thầm huân vào và lưu giữ trong A-lại-da thức, sẽ hiện hành khi đủ duyên.

Sự phát sinh của các pháp: THỨC CHỨA ĐỰNG TẤT CẢ CÁC CHỦNG TỬ: Từ “chủng tử” ám chỉ năng lượng tiềm tàng, khi nhân duyên chín muồi, sẽ hiện hành liên quan tới hành động trước đây. Chủng tử có thể được mô tả như “tiềm năng trong thức thứ tám tạo ra quả.” Cách cư xử ngày hôm qua và hành động ngày hôm nay tạo ra con người ngày mai, và chức năng cùng với sức mạnh mang lại kết quả như thế là “chủng tử.” Gọi thức A-lại-da là “thức chứa tất cả chủng tử” nghĩa là dấu ấn-khuynh hướng của những hoạt động và thái độ quá khứ lưu giữ trong thức thứ tám trở thành nhân ban đầu từ đó sinh ra các pháp trong tương lai. Danh từ tất cả các pháp rất phổ biến trong kinh Phật, và vì thế chúng ta sẽ giải thích ý nghĩa căn bản của từ này.  Cụm từ hiện hành chủng tử huân tập ám chỉ những chủng tử tượng trưng cho lực đẩy của những dấu ấn hiện hành đã được gieo trồng vào trong A-lại-da thức – cùng những hiện hành này ban đầu đã được sinh ra từ những chủng tử. Quá trình làm sinh khởi những hiện hành được gọi là chủng tử phát sinh ra hiện hành. Để diễn tả điều này, có khái niệm của “ba quá trình liên tiếp đồng thời gây ra nhân và quả.” Đó là: 1- hiện hành sinh ra chủng tử; 2- chủng tử sinh ra hiện hành;  3- hiện hành huân tập chủng tử đã được lưu giữ trong A-lại-da thức. Sự kiện là ba hiện tượng này, trong khi hành động như những nhân quả qua lại, liên tục hành động cái này sau cái kia, và hơn nữa tất cả những sự kiện này xảy ra đồng thời, được gọi là ba quá trình liên tiếp đồng thời gây ra nhân và quả. Sự kiện này xảy ra tức thời, và theo Duy Thức Học, trong thời gian ngắn hơn một sát-na, hiện hành phát sinh từ chủng tử phản xạ của hoạt động quá khứ lại được cất giữ trong A-lại-da thức như là chủng tử và khuynh hướng. Vì hiện tượng này tiếp tục không gián đoạn từ quá khứ vô thủy, giống như sự huân tập từ vô thủy đã được đề cập trước đây. Sự kiện mà chúng ta gọi là ba quá trình gây ra nhân và quả đồng thời cho chúng ta một ý nghĩa phong phú của một hệ thống chức năng hoàn hảo, không chấp nhận lý do bào chữa nào. Luận A-tì-đàm Câu-xá-thích cho biết thêm về chủ đề của nhân và quả như là học thuyết của sáu nhân, bốn duyên, và năm loại quả. Kinh bản đó đã nghiên cứu chi tiết và chính xác nhân và duyên cần có trong việc tạo ra các pháp. Trong nhân và duyên, có bốn loại tổng quát gồm: 1- Nhân duyên. 2- Ðẳng vô gián duyên. 3- Sở duyên duyên.  4- Tăng thượng duyên. Duy Thức Học Phật Giáo lấy nguyên cụm từ này và giải thích như sau: 1- Nhân trực tiếp là nhân tức thì gây ra tất cả hiện tượng chúng ta trải qua trong đời sống hằng ngày. Chủng tử chứa trong A-lại-da thức hoạt động tạo ra những hiện hành. Trên bình diện này, nhân là chủng tử. Sau đó hoạt động hiện hành do chủng tử gây ra lập tức huân tập những chủng tử ấn tượng-động lực trong A-lại-da thức và theo cách này, hoạt động hiện hành là nhân trực tiếp của những chủng tử đó. Như vậy có hai loại nhân trực tiếp: chủng tử như là nhân trực tiếp, và hoạt động hiện hành như là nhân trực tiếp. Với hai loại nhân này làm duyên, tất cả các pháp được sinh khởi, và quả mà chúng ta gọi là chủng tử sinh ra hiện hành, hiện hành huân tập chủng tử.  2- Đẳng vô gián duyên – Nhân qua những duyên tương tự và xảy ra ngay trước đó ám chỉ tình trạng từ đó một tâm sở nào đó (tâm vương hay tâm sở) xảy ra tương tục, với tâm vương/tâm sở trở thành duyên cho tâm vương/tâm sở theo sau. Không có một sự ngắt quãng nào giữa quá khứ và hiện tại, đưa đến điều mà chúng ta gọi là duyên tương tự và xảy ra ngay trước đó. 3- Sở duyên duyên ám chỉ khả năng tạo ra nhân của những đối tượng nhận thức. Nếu một đối tượng nhận thức không có mặt như là một duyên, khả năng nhận thức không thể có, vì hình ảnh được chiếu rọi lên (khía cạnh khách quan) được hiện hành trong tâm không xuất hiện. Các pháp thuộc thế giới bên ngoài vừa làm dấy khởi lên các khía cạnh khách quan và đối tượng nhận thức gián tiếp, và như thế chúng được bao gồm trong loại Sở duyên duyên. 4- Tăng thượng duyên như là nhân và duyên ám chỉ phụ thuộc hành động trong việc sinh ra các pháp, nằm ngoài phạm vi của ba loại nhân và duyên được giới thiệu ở trên. Trong khi điều đòi hỏi đầu tiên trong việc tạo ra quả là nhân duyên, tăng thượng duyên cũng cần thiết – phải có một môi trường thân thiện, nâng đỡ để các pháp có thể xảy ra – hay ít nhất một môi trường không ngăn cản sự việc xảy ra. Tuy rằng những hiện hành tạo ra từ những chủng tử gieo thêm dấu vết mới ấn trở lại vào A-lại-da thức, như những chủng tử đồng thời với sự sinh sản ra chủng tử, không nhất thiết là những chủng tử được huân tập trong A-lại-da thức lập tức, lại gây ra những quả mới. Thật ra, có một số rất nhiều trường hợp trong đó hiện hành không thể trực tiếp đạt được, nghĩa là những duyên cần thiết phải được tiên liệu và sửa soạn để cho bất cứ sự kiện nào xảy ra. Quá trình này được gọi là chủng tử sinh ra chủng tử. Hai loại chủng tử sinh ra và được sinh ra hiện hữu trong tuơng quan nhân quả với nhau. Những chủng tử trước (nhân) sinh ra những chủng tử tiếp theo (quả). Vì nhân và quả tạm thời, không phải là tương quan đồng thời như trong trường hợp chủng tử sinh ra hiện hành và hiện hành huân tập chủng tử, nên gọi là thứ đệ nhân duyên. Bằng cách tỉnh giác bén nhậy tiến trình tâm thuộc chủng tử sinh ra hiện hành, hiện hành huân tập chủng tử và chủng tử sinh ra chủng tử, chúng ta có thể bắt đầu ứng xử tùy thuận và khởi sự sống theo Duy Thức. Điều này đòi hỏi sự chú tâm liên tục tới sự kiện là hành động của chúng ta tiến triển qua tiến trình của ba nghiệp thân, khẩu, và ý, và mỗi ý nghĩ thoáng qua tâm chúng ta sẽ có liên quan đến tương lai. Trong lý thuyết về chủng tử Duy Thức học giới thiệu một cách phân loại giống mô hình tự nhiên đối lại nuôi dưỡng. Đây là sự phân chia giữa chủng tử câu sinh (tức đã có mặt từ trước) và chủng tử mới được huân tập. Ý niệm về chủng tử câu sinh diễn tả tiềm năng sinh ra tất cả các pháp một cách tự nhiên bao gồm quá khứ vô thủy trong A-lại-da thức. Vì từ cố hữu biểu lộ nét riêng biệt căn bản, những chủng tử câu sinh có thể xem như tương tự với ý niệm về một khuynh hướng bẩm sinh. Tuy nhiên, vì có tính “vốn xưa nay, từ quá khứ vô thủy”nên đây là điều quan trọng với ý nghĩa phức tạp hơn là chỉ đơn thuần có nghĩa bẩm sinh hay câu sinh, trong bài giảng về tâm lý ngày nay. Chúng ta có thể nói là, theo nghĩa tổng quát, những chủng tử câu sinh được trang bị cho cái “ngã” ngay từ đầu, và chủng tử mới được huân tập thì mới được gieo vào A-lại-da thức y cứ trên những sinh hoạt hằng ngày của chúng ta, nhưng thật ra không thể nào phân biệt được một cách cụ thể chủng tử nào là câu sinh và chủng tử nào là mới được huân tập. Chỉ có chư Phật mới có khả năng phân biệt được điều này. SÁU Ý NGHĨA: Nhân chủng tử tiêu biểu cho tiềm năng trong tám thức để tạo ra quả hoạt động theo sự điều khiển bởi sáu nhân khác nhau. Đó là: 1- năng tác nhân,2- câu hữu nhân, 3- Tương ưng nhân; 4- đồng loại nhân, 5- Biến hành nhân, 6- Dị thục nhân. Đây là sáu nhân của chủng tử. Chúng ta có khuynh hướng kết luận là nói đến các pháp như thể chúng chỉ là một loạt đồ vật, nhưng tất cả hiện tượng được sinh ra do nhân và duyên (được biết đến như là các pháp hữu vi) có thể xếp một cách tổng quát thành ba nhóm gồm: 1- tâm pháp (bao gồm tâm vương và các tâm sở),2- sắc pháp, 3- các pháp không thuộc vào hai loại trên (gọi là những yếu tố không trực tiếp thuộc về tâm như thời gian, phương hướng, số lượng v.v.). Theo nghĩa tổng quát, nói rằng chủng tử là nguyên nhân sinh ra tất cả các pháp thì không được chính xác. Tuy nhiên, nói một cách cụ thể, ta hiểu rằng các hiện tượng vật chất được sinh ra từ sắc pháp, và các hiện tượng tâm lý được sinh ra từ tâm pháp. Trong sáu ý nghĩa của chủng tử này,  quan trọng đặc biệt của hai ý nghĩa là nhân chỉ phát sinh ra hiện hành, khi những nhân phụ cần thiết cũng phải có mặt và một nhân sinh ra một quả đặc biệt, không sinh ra loại quả nào khác. Điều này đòi hỏi chúng ta xem lại phần bốn nhân và duyên. Ngay từ đầu, Phật Giáo chú trọng nhiều đến vấn đề nhân và quả, và trong ý niệm nhân quả này, Phật giáo đặc biệt nhấn mạnh đến ý niệm luật nhân quả qua vô số nhân và duyên.

Vùng tiềm tàng của Tâm: THỨC MẶC NA VÀ ĐỐI TƯỢNG: Đức Thích Ca Mâu Ni, đấng Đạo Sư Phật Giáo đầu tiên được ghi nhận trong lịch sử thế giới của chúng ta, với nhãn quan sâu xa nhìn con người và thế giới tự nhiên chung quanh chúng ta và khám phá ra hai nguyên lý tối trọng yếu về sự vô thường của các pháp và vô ngã của các pháp. Các pháp vô thường có nghĩa chúng ta, và tất cả sắc tướng của thế giới tự nhiên chung quanh chúng ta thường ở trong một trạng thái sinh-dị-diệt. Không thể nào có một vật gì thường hằng, có bản chất bất biến, và đó là ngụ ý các pháp vô ngã. Các nhà Duy Thức xem quan niệm này của Phật Giáo là nền tảng, tiếp tục khảo sát vùng căn bản tiềm tàng nhất của tâm sau này được biết đến là thức A-lại-da. Y cứ trên sự có mặt những điều kiện cần thiết trong Tàng thức, những chủng tử theo nhau tạo ra hiện hành, và những hiện hành này với những dấu ấn và khuynh hướng lại tuần tự huân tập vào A-lại-da thức. Chuỗi những chủng tử gây ra hiện hành và hiện hành huân tập chủng tử hoạt động cốt tạo ra một môi trường tiến hóa tương tục. Ý nghĩa của tàng thức về mặt (1) năng tàng (2) sở tàng, và (3) chấp tàng. Nghĩa thứ ba là nghĩa của sự chấp chặt vào cái ngã xem đó là vật ám chỉ. Điều này nói tới thức thứ tám bị thức Mặc na chiếm dụng và bám chặt như một đối tượng. Ngược lại, thức Mặc na xem thức A-lại-da như đối tượng của mình và bám víu vào như cái ngã tạo ra bởi một bản chất không đổi. Trong đây, ý niệm tàng thức bị chiếm đoạt tiêu biểu một cách rõ ràng mối liên quan giữa thức A-lại-da và thức Mặc na, từ đó chúng ta có thể thấy được khía cạnh bị Mặc na níu kéo đúng là đặc tính của thức A-lại-da. Từ góc nhìn này, ý nghĩa thức bị chiếm dụng quan trọng nhất trong ba ý nghĩa. Chức năng của Mặc na thức là luôn luôn nhìn về phía A-lại-gia-thức-như-là-ngã-của-mình, và bám chặt vào. Mặc na thức có thể được giải thích như “hết-lòngvì-ngã,” vì chức năng tâm này một cách tự nhiên đưa đời sống chúng ta đến trạng thái cực kỳ vị ngã. Mặc na thức luôn luôn vận hành trong tiềm thức. Đóng góp vào sự tiến bộ và thăng hoa xã hội thì hiển nhiên là điều tuyệt vời và tốt lành, và đương nhiên sẽ được xã hội đánh giá cao. Tuy nhiên, trong mỗi con người đang cố gắng trau dồi thái độ và hành vi lành mạnh nếu không để ý tới hoàn cảnh, tất cả những hành động như thế bị tâm ích kỷ của chúng ta làm ô nhiễm. Những đoạn trong Hai Tập Trích Tuyển Pháp Tướng phản ảnh quan điểm này.Ý niệm cách sống của phàm phu chưa giác ngộ là bám víu vào bản ngã – sự bám víu mọc rễ sâu xa trong sự cụ thể hóa ý niệm về ngã – đương nhiên được hiểu rộng rãi trong Phật Giáo. Tuy nhiên, đó là nhiệm vụ của các nhà Duy Thức để công nhận rằng sự bám víu này có đặt căn bản trong vùng tâm sâu kín gọi là Mặc na thức và nói rõ ra những đặc tính. Chính tu tập đạo Phật sẽ trừ bỏ bám víu vào cái ngãMặc na có bốn phiền não chính tiêu biểu là những tâm sở ngã si, ngã kiến, ngã mạn và ngã ái luôn luôn đi kèm. Khi hai phiền não cuối là sân và nghi thêm vào bốn phiền não trên, chúng ta có nguyên bộ sáu phiền não chính, đó là những rối loạn căn bản của tâm và là nguồn đưa đến mọi thứ loạn động.Y cứ trên những căn bản phiền não này, một loạt phiền não dẫn xuất từ đó, người ta biết đó là 20 tùy phiền não được kích động. Trong số này có 8 chức năng thuộc về tâm lý có liên quan tới Mặc na thức. Đó là bất tín, giải đãi, phóng dật (buông lung), hôn trầm, trạo cử, thất niệm, bất chánh tri, và tán loạn. Khi phiền não trong tâm khởi lên, tất cả 8 tâm sở này theo nhau xuất hiện. Tâm bị ô nhiễm làm ta bất an, và kết quả là khoảng cách giữa chúng ta và tâm Phật chắn chắn càng ngày càng lớn.

Tâm Tư lương: A-LẠI-DA THỨC VÀ Ý THỨC: Chức năng của A-lại-da thức là tiếp tục duy trì những dấu ấn và khuynh hướng của kinh nghiệm quá khứ trong dạng chủng tử, không để mất chút nào. Đây là cơ cấu hình thành nguyên thủy của mỗi cá nhân, nhưng gọi là “hình tướng của nguyên thủy vô tướng” thì chính xác hơn. Dù A-lại-da thức có toàn hảo tới đâu bằng những gì đã tiếp thu và gìn giữ, nếu chỉ y cứ trên sự tỉnh giác của chức năng là kho chứa, thì không thể nhận diện được một “cái tôi” được định nghĩa rõ ràng và riêng biệt. Duy Thức Học Phật Giáo chia những chức năng tâm lý thành 51 tâm sở được phân ra sáu nhóm tùy theo đặc tính. Những nhóm tâm sở này là:1- tâm sở biến hành 2- tâm sở biệt cảnh 3- tâm sở thiện. 4- tâm sở phiền não chính. 5- tâm sở tùy phiền não, 6- tâm sở bất định.Năm mươi mốt tâm sở trực tiếp liên hệ đến ý thức, và ý thức có phạm vi chức năng tâm lý cực kỳ đa dạng. Ngụ ý ở mức độ ý thức tâm có thể vận hành theo chiều hướng thiện hay bất thiện. Trong khi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của A-lại-da thức và Mặc na thức, và y theo những chức năng khác nhau hoàn thành bởi ý thức, chúng ta có thể hoặc tiến gần hoặc rời xa Phật đạo. Y cứ trên chức năng của ý thức, sự vật có khuynh hướng biến đổi một cách chủ quan, và những đối tượng được biến đổi được xem như đối tượng sự nhận thức trực tiếp của chúng ta. Tác nhân biến hiện thứ ba bắt đầu khi có sự hiểu biết đối tượng y cứ trên ý thức. Ý thức khởi lên theo hai trường hợp (1) cùng với tiền ngũ thức (ít nhất một thức), và (2) không liên hệ với tiền ngũ thức. Trường hợp đầu, ý thức vận hành đồng thời với tiền ngũ thức và khiến nhận thức đối tượng của giác quan chính xác hơn. Đối với chúng ta thật bình thường việc sử dụng những thức giác quan và ý thức theo sau khi suy đoán và ý hướng kinh nghiệm chung với những nhận thức giác quan. Trong trường hợp ý thức khởi lên cùng với những thức giác quan được phân biệt thành hai nhóm: (a) ý thức có cùng vật ám chỉ với thức giác quan, (b) ý thức không có cùng vật ám chỉ. Trường hợp ngược lại, ý thức khởi lên không liên hệ với thức giác quan. Loại ý thức này được phân ra: (a) ý thức khởi lên cùng với thức giác quan, (b) ý thức khởi lên độc lập với thức giác quan. Duy Thức Học Phật Giáo phân tích những chức năng tâm gồm năm tâm sở biến hành, năm tâm sở biệt cảnh, mười một tâm sở thiện, sáu tâm sở phiền não chính, hai mươi tâm sở tùy phiền não, và bốn tâm sở bất định, tất cả là năm mươi mốt tâm sở được chia thành sáu nhóm. Khả năng của năm mươi mốt tâm sở này tùy thuộc phần lớn vào thức thứ sáu, ý thức

Chức Năng của Tiền Ngũ Thức: SỰ NHẬN THỨC TRONG TIỀN NGŨ THỨC: Mỗi tiền ngũ thức nhận thức riêng từng đối tượng tương ứng: sắc, thanh, hương, vị, và xúc. Nhãn thức thấy được màu sắc, hình dáng, và điều kiện của vật; nhĩ thức nghe được những âm thanh khác nhau; tỷ thức ngửi được sự khác nhau giữa mùi thơm dễ chịu và mùi hôi; thiệt thức nếm được vị những món được bỏ vào miệng, phân biệt là đắng hay ngọt, và thân thức nhận định sự vật chạm phải làn da là lạnh, ấm, mềm, cứng, ướt hay khô. Những thức cảm giác này chỉ nhận biết được đối tượng riêng biệt. Chức năng căn bản của tiền ngũ thức là nhận biết đối tượng như đang là. Không có thêm một sự giải thích về ngôn ngữ vào đây như: “đây là một bông hoa” hay “đây là một quang cảnh tuyệt vời.” Tiền ngũ thức chỉ nhận biết sự vật khi trực tiếp cảm nhận, không có một quan niệm nào thêm thắt. Loại nhận thức này được gọi là nhận thức trực tiếp.Theo các nhà luận thuyết Phật Giáo thông thường có ba cách để nhận thức sự việc: (1) nhận thức trực tiếp sự vật không sai chạy (hiện lượng); (2) nhận thức sự vật qua liên hệ lý luận, như phân biệt và so sánh (tỷ lượng) và; (3) nhận thức sai lạc (phi lượng), ám chỉ chức năng sai sót của một trong hai nhận thức trên. Tiền ngũ thức và thức thứ tám chỉ vận hành với nhận thức trực tiếp, trong khi thức thứ bảy vận hành với nhận thức sai lạc. Để kết luận, những chức năng tâm lý của tiền ngũ thức gồm có: năm tâm sở biến hành, năm tâm sở biệt cảnh, mười một tâm sở thiện, ba tâm sở tham, sân, và si của phiền não chính, mười tâm sở vô tàm, vô quý, tán loạn, phóng dật, bất tín, giải đãi, trạo cử, thất niệm, tán loạn và bất chánh tri của những tâm sở tùy phiền não, tổng cộng là ba mươi tư chức năng

Ba tự tánh duy thức

1- Biến kế sở chấp tự tánh: Biến nghĩa là phổ biến. Kế nghĩa là xét nghiệm, so đo. Tự tánh nầy không phụ thuộc vào bản chất các pháp. Nó không phải là tự tánh của các pháp. Tự tánh ấy chỉ do sự so đo xét nghiệm của Ý Thức mà có. Một là cho rằng mỗi pháp đều có đặc tính riệng của nó. Hai là cho rằng tất cả các đặc tính đều có bản thể. Ví dụ nghe đồn nhà bên cạnh có con quỉ đêm đêm hiện về khuấy phá. Khi nhe như vậy người nầy tưởng tượng ra hình thù con quỉ mặt xanh nanh vàng. Người khác tưởng tượng ra con quỉ mặt đỏ nanh trắng v.v… Thực ra những hình ảnh đó là do Ý Thức tưởng tượng ra mà có chứ thực thể không có thật. Nên bài tụng nói tánh biến kế nầy không có tự tánh là nghĩa như vậy.  Ta có thể suy luận ra 4 loại biến kế như sau: Biến mà không kế, kế mà không biến, có biến và có kế, không biến cũng không kế. a- Biến mà không kế:  Nghĩa là khi hành giả tu tập đã chuyển Thức thành Trí rồi thì thấu rõ vạn pháp không ngăn ngại. Sự thông suốt là do Trí Giác mà biết chứ không do kế đạt phân biệt mà biết nên gọi là tri giác phổ biến mà không do kế đạt phân biệt. Do đó nên gọi là biến mà không kế. b- Kế mà không biến: Đó là hành tướng của Mặc na Thức. Thức Mặc na chấp ngã là cái ngã kiến hư vọng. Ðối tượng của nó chỉ là phần tri kiến của Thức Alaya. Còn những đối tượng nhận thức khác như về vũ trụ, nhân sinh, sự lý đều thoát ra ngoài sự so đo suy nghiệm của nó nên gọi là Mặc na có kế mà không biến. c- Có biến và có kế:  Đó là chỉ cho hành tướng của Ý Thức. Ðối tượng của Ý Thức là 3 cảnh, tất cả những sắc trần, thinh, hương, vị, mừng giận… đều là đối tượng của thức nầy nên gọi là Biến. Ý thức luôn luôn suy nghiệm so đo nên gọi là Kế. Vì kiến chấp của Ý Thức là do những tác động từ bên ngoài mà có nên gọi là Y Tha Khởi. Nhưng vì các pháp bên ngoài không có thật thể nghĩa là không có tự tánh nên Ý Thức dựa vào đó mà phát sinh nhận thức nên tự tánh của nó cũng không thật có. d- Không Biến cũng không Kế:  Ðó là chỉ cho các Thức: Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân. Các Thức nầy chỉ phân biệt đối tượng riêng biệt của chúng nên không phải là Biến. Và những phân biệt theo trực giác chứ không phải theo lối so đo suy niệm nên không gọi là Kế.  Nói chung tại sao gọi là Biến kế sở chấp Tự Tánh? Vì sự nhận thức so đo của Ý Thức chấp trước tất cả sự vật theo cách nhìn thiển kiến của Ý Thức về sự vật dễ đưa đến tình trạng thiên lệch kiến chấp sai lầm, phát khởi từ những nguyên nhân sai lầm trùng trùng duyên khởi từ bên ngoài đã thành thói quen mà mọi người thường cho đó là tự tánh là thể tính. Nhưng thực ra những chuỗi dài nhân duyên đó vốn không có thực thể thì làm gì có tự tính được. Do đó mà trường họp nầy không có tự tính thật.2- Y Tha Khởi Tự Tánh: “Y” nghĩa là dựa vào. “Tha” là những cái khác. Y Tha Khởi là dựa vào những vật khác mà sinh ra. Nương vào những hiện tượng khác mà phát sinh ra hiện tượng nầy. Ðó là tự tánh của các Pháp. Nói cho cùng thì vật nào cũng phải từ cái khác liên hệ sinh khởi. Không vật nào hay hiện tượng nào tự nó có thể sinh khởi mà không nhờ đến các duyên khác. Một vật được sinh ra là do kết hợp nhiều nguyên nhân và nhiều trợ duyên mới thành. Ðó là nguyên lý nhân duyên sinh của các pháp. Ðó là tính Y Tha Khởi của các Pháp.  Nhưng Tự Tính Y Tha Khởi nầy cũng không thật có vì mọi vật nếu hội đủ nhân duyên thì đuợc sinh ra nếu nhân duyên tan rã thì vật ấy không còn tồn tại. Do đó mà Tự Tính nầy không thật có. Do đó tuy gọi là Tự Tính nhưng vì nó không thật có nên không phải là tự tính nữa.3- Viên Thành Thật Tự Tánh: Bát Nhã Tông chủ trương thể tính của các Pháp là Không. Chữ không phải được hiểu là tất cả các Pháp đều do Alaya biến hiện trong ý nghĩa là vạn pháp Duy Thức do đó thể tính của các pháp là Không. Không là “không phải là Biến kế sở chấp”.  Ðứng về Pháp Tướng Tông thì vạn sự vạn vật sở dĩ có là do Y Tha Khởi, cái có tương đối giả huyễn cái bản chất của các hiện tượng giả huyễn ắt là không có thực thể. Ðứng về bản chất pháp tánh mà nói thì các pháp vẫn có bản tính chân thực của nó. Do đó tất cả những biến tướng của Thức đều là pháp tướng của Y Tha Khởi. Nhận chân được điều đó thì tánh Viên Thành Thật của các Pháp sẽ được hiểu là tự tánh chân thật của các Pháp vậy. Ba Vô Tánh giải thích theo luận Vijnãna Mâtra-siddhi Trimsati Castra Karika của Vasubandhu  Phần trên đã đề cập đến 3 tự tánh thế nhưng tại sao Đức Thế Tôn lại nói là: “Tất cả Pháp đều không có tự tánh”.  Đức Phật y cứ trên 3 món Tự Tánh đó mà mật ý nói là tất cả pháp đều không có tự tánh. Trong Duy Thức Học nói Ba Cõi duy tâm, vạn pháp duy Thức. Nói về Thức thì Thức Thứ Tám là căn bản Thức. Trong phần bàn luận về Ba Vô Tánh cũng là nói về những thuộc tính của Thức Thứ Tám vậy. “Tướng Vô Tánh” đối trị Biến kế sở chấp Tánh. Biến kế sở chấp sở dĩ không có tự tánh vì là tướng hư vọng của các pháp nên nó không có tự tánh. “Tự Nhiên Vô Tánh” đối trị Y Tha Khởi Tánh, Y Tha khởi không có tự tánh vì nó do các duyên hội đủ mà sinh ra chứ không phải tự nhiên mà có được do đó trong luận nói không có tự tánh. Thắng Nghĩa Vô Tánh” đối trị Viên Thành Thật Tánh. Sở dĩ Viên Thành Thật không có tự tánh là vì do xa lìa tánh Biến Kế hư vọng chấp ngã chấp pháp mà hiện ra. Đức Phật muốn phá 3 món tự tánh nên giả lập ra ba món vô tánh nầy. Đây là mật ý của Đức Phật không muốn hàng đệ tử chấp vào ba món tự tánh mà có hại cho sự tiến tu giải thoát.  Thắng Nghĩa có nghĩa là hơn hẳn, là tuyệt diệu không thể nghĩ bàn. Thắng Nghĩa Vô Tánh cũng tức là Chơn Như, vì tánh nó chơn thật không vọng, thường hằng như vậy nên được gọi là Thật Tánh của Duy Thức.  Đức Phật mật ý nói: “Hết thảy pháp đều không có tự tánh” chứ chẳng phải nói “Tánh” hoàn toàn không có.

Bản ngã theo duy thức

Bản-ngã thật ra chỉ là ngã chấp.Có hai thứ ngã-chấp: câu sanh ngã-chấp và phân-biệt ngã-chấp.1.- Câu-sanh ngã-chấp. – Câu-sanh ngã-chấp là thứ ngã-chấp có ngay từ khi con người mới sinh, chứ không phải do sự phân-biệt vọng-chấp mới có. Ngã-chấp này có từ vô-thỉ, chỉ khi nào giác-ngộ thành Phật mới hẳn tiêu-tan, còn là chúng-sinh thì vẫn còn.Câu-sanh ngã-chấp có hai tác dụng phân-biệt; Một là “trực-giác ngã-chấp”, tức là chỉ cho Mặc na (1) do duyên với kiến phần A-lại-gia và chấp cái cảnh tượng mà mình đã biến ra làm tướng-phần của mình. Ấy là thứ ngã-chấp sâu-xa, thắm-thiết. Hai là “phân biệt ngã-chấp”, khi trực tiếp với đối tượng, có những tâm sở ngã-kiến, ngã-ái, ngã-mạn, ngã-si phát-sinh để phân-biệt và tham đắm. Hai loại ngã-chấp thuộc về Mặc na này thật khó trừ đoạn, chúng tồn tại trước khi có sinh mệnh; chúng có từ vô-thỉ, chứ không phải chỉ khi con người sinh ra mới phát hiện. Trên đường tu-đạo hành-giả phải “quán thắng sinh-không” mới dần dần trừ diệt được.II.- Phân-biệt ngã-chấp: là thứ ngã-chấp mới phát hiện sau khi có thân, do sự phân-biệt vọng-chấp. Thứ ngã-chấp này dễ trừ-đoạn hơn; khi mới vào địa-vị kiến-đạo hành-giả quán, “sinh-không chân-như” là có thể tiêu diệt được. Phân biệt ngã-chấp thuộc về ý-thức (conscience-connaissance), cũng có hai tác dụng phân-biệt: một là trực-giác ngã-chấp tức là chỉ cho ý thức khi chấp toàn thể sinh lý và tâm lý là “ngã” một cách trực tiếp không cần phân-biệt; hai là suy-nghiệm ngã-chấp tức là cho ý-thức khi dùng suy-nghiệm để chấp-ngã bằng sự suy-nghiệm đúng đắn.Phân biệt ngã-chấp tất nhiên phải nương trên câu-sanh ngã-chấp mà phát hiện. Tuy nhiên hoàn cảnh và ý-thức là hai động lực thiết yếu cho sự phát hiện ấy. Trên Mặc na, lúc nào cũng có ngã-chấp thầm-kín, sâu xa; trên ý-thức, trực-giác ngã-chấp do suy nghiệm ngã-chấp cấu thành, cũng lấy đó làm nền tảng. Lúc mới sinh, ý-thức về bản ngã của trẻ con rất lờ mờ, vì lẽ phân biệt ngã-chấp của chúng mới được ý-thức và ngoại cảnh thai-nghén nên một cách yếu ớt. Có thể nói rõ rằng khi ấy suy-nghiệm ngã-chấp đã có một cách lờ-mờ, nhưng trực-giác ngã chấp thì còn chưa có. Tuy nhiên câu-sanh-ngã-chấp của chúng vẫn có đầy đủ như thường – giống hệt như của người lớn. Lớn lên một chút, trẻ con đã có thể quan niệm về nó và về kẻ khác, và bắt đầu phân-biệt mình và người, mình và vật. Nhờ sự đụng chạm giữa căn và cảnh, nó phân-biệt được thân nó và sự vật khác với thân nó. Vì thế, đối với trẻ con, bản ngã nó tức là thân xác nó. Sự phân-biệt rõ-ràng về mình và về người luyện nơi ý-thức của nó một trực-giác chấp-ngã. Cũng có nhiều người lớn chỉ quan-niệm về bản ngã giống hệt như trẻ con cho bản ngã là xác thân mình, và chỉ có thế. Chỉ những kẻ mà suy-nghiệm ngã-chấp đã trở nên tinh-vi mới có những quan-niệm khác hơn về bản-ngã. Nhiều kẻ không cho xác thân là bản-ngã nữa, và họ nói: “tôi muốn thoát khỏi cái xác này cho rồi.” Thế thì tôi và xác đã là hai cái khác nhau. Những kẻ ấy hẳn cho cái ta là ý thức, là một linh hồn có tính cách thuần nhất và có thể tồn-tại ngoài xác thân. Có kẻ lại cho “cái ta”, là tổng hợp của tất cả những kiến-thức, tư-tưởng, tình cảm, không có tánh cách thuần-nhất. Vậy bản ngã là gì? Thật khó trả lời, vì thực ra theo Phật học ta không tìm hiểu nó được, vì nó không thực có. Bản-ngã mà ta quan niệm phải là một cái gì có tính cách duy nhất, bất biến và có khả năng chủ-tể. Ta thử nhìn xem cái gì trong ta là duy nhất, bất biến và có khả năng chủ tể. Thân xác ư? Thân xác thì luôn luôn biến đổi, hằng giờ, hằng phút. Thân xác chỉ là sự tập hợp của vô-số tế bào sống đang biến chuyển mau lẹ vô cùng. Tinh-thần ư? Tinh thần là sự tập hợp của tất cả mọi tư-tưởng, cảm giác, tri giác, các hiện tượng ấy vẫn tiếp-tục biến chuyển, thay đổi màu sắc, không khi nào giống khi nào và chẳng có gì là thuần-nhất cả. Nói “bản ngã” tức là toàn thể những yếu tố vật-lý, tâm lý cũng không được, vì hợp lại, chúng cũng chẳng có tính cách thuần-nhất chút nào. Nếu nói bản ngã là một cái gì chẳng phải vật-lý cũng chẳng phải tâm-lý – tức là bản ngã ly-uẩn – thì cái ấy sẽ đồng như hư không, không còn có tác dụng gì hết, làm sao có thể gọi là bản-ngã được?. Vậy “Bản ngã” chỉ là những quan-niệm mơ hồ sai lạc về một cái gì đồng nhất, bất biến, có tính cách chủ tể, và cái gì đó tự thân nó không thể có được. Sự sống chỉ là một giòng biến chuyển mà trong ấy không có một bản ngã chủ động. Vì thế, cái bản-ngã chủ tể (le moi-sujet) và cái bản-vị đối-tượng (le moi-object) đều là những giả danh, không có thực, chỉ do phân-biệt vọng-chấp mà hình như thực có. Cái vọng chấp của ý-thức, tuy thế vẫn nương trên vọng-chấp của Mặc na. Nguồn gốc sâu xa của ngã-chấp là ở Mặc na. Mặc na kết tinh của vô-minh, luôn luôn lấy phần tri-kiến của Alaya làm đối-tượng để chấp làm ngã, chấp một cách chặt cứng, không rời. Alaya tự nhiên không muốn mà trở thành “ngã-tướng” và bị Mặc na chấp.Cái kiến chấp ấy vô-lý quá, nhưng cũng lại rất sâu thẳm, ta khó dùng ý-thức để tìm hiểu và đoạn trừ được. Do công-phu thiền-định ta mới có thể thấy rõ và tiêu-diệt được nó mà thôi. Nhờ công năng tu thiền định, ta có thể chuyển ngã-chấp thành trí-tuệ, thành ” bình-đẳng tánh-trí” trí sáng-suốt nhận rõ lý bình-đẳng tuyệt-đối của vạn-pháp, không phân-biệt mình, người. Khi đã chứng ngộ lý phân-biệt ngã-không và phân-biệt pháp-không, tức là đến địa-vị hoan-hỷ-địa, địa thấp nhất của Bồ-Tát, ý-thức có thể dùng “quán” để ngăn-ngừa bốn tâm sở ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái, và tám tâm sở đại tùy không cho hiện-hành. Do đó Mặc na mất rất nhiều tính chất ô-nhiễm và bắt đầu gần bình-đẳng tánh-trí. Mặc na trong công việc giải-thoát chỉ đóng vai trò thụ-động, chính kẻ giải-thoát cho nó là ý-thức. Khi chưa lên đến thất địa của Bồ-Tát thì ý-thức còn chưa được thường-trực an-trú nơi nhị-không chân-như nên pháp-ngã-chấp hãy còn và sự phân-biệt mình người của ý-thức cũng chưa dứt hẳn. Đến đây Mặc na mới chịu rời Alaya, và phá được câu sanh ngã chấp. Lên đến thất địa thì ý-thức đoạn được, sự phân-biệt hư-vọng về mình và người, nhưng pháp ngã-chấp vẫn còn. Đến bát địa trở lên, cả hai thứ nhân ngã-chấp và pháp-chấp đều được diệt sạch, chỉ còn lưu lại các thứ pháp-chấp vi-tế mà thôi. Đến đây ngã-chấp hư-vọng mới được vĩnh-viễn trừ diệt. Khi Mặc na được hoàn-toàn chuyển thành bình-đẳng tánh-trí, đến quả vị Phật, thì có thể hiện ra các tha thọ- dụng thân để hóa độ chúng sinh.

Kết luận:

 1.Đầu tiên chúng ta nhìn vào các pháp chung quanh ta, ta khởi ra quan niệm tùy theo hình tượng và đặt tên cho các pháp thì sự hiện hữu của nó là do ta áp đặt tên cho chúng chứ thực tướng của nó là chính nó không phải vậy. Nó chỉ có giá trị do chúng ta đặt tên gán cho nó, chứ con vật nhìn nó khác, bản chất thật của nó khác, tất cả là do Thức của ta áp đặt gọi là tâm thức. Nên duy thức gọi là các pháp chỉ duy thức mà có, 3 cõi giới: dục giới, vô sắc giới và sắc giới đều do tâm mà có. Tự tánh của nó là chân lý thì nó là nó không có giá trị như con người đặt ra rồi chúng ta lệ thuộc vào nó, như cuộc chơi mình đặt ra rồi mình đặt mình vào cuộc chơi đó và cho nó là sự thật. Cốt lỏi là chúng ta sanh ra xem các pháp là cho chính chúng ra đặt ra áp đặt tên rồi ta sống trong đó và xem nó như là sự thật chứ không nhìn được thực tướng của nó là không phải như vậy. Các pháp thực ra không có tánh quí hèn giá trị hay không, lợi ích thì làm ta mưu cầu nguyện, nó hại thì ta tránh né và từ đó tạo ra nghiệp: thủ(lấy) và xã(buông ) làm nghiệp cộng lại thì thành nghiệp lực đẩy ta đi tới đời này đi đến đời sau và từ đó làm ra luân hồi, rồi nghiệp thiện ác vô ký làm cho đời ta thay đổi chiêu cảm thiện ác này mà luân hồi mãi mãi.Tất cả nghiệp là vọng nghiệp khiến ta trôi lăng sinh tử luân hồi bất tận. Phật chỉ ra là vọng tưởng, danh tướng các pháp là không thật, thoáng ra rồi mất không bao giờ lâu hơn 100 năm. Tất cả chúng ta sống ảo ảnh giác mộng sống chập chờn đời này qua đời khác luân hồi, vậy chúng ta hiểu thực ra thế giới này không tự nó có mà do chúng ta đặt ra như giấc mộng mà mình sống trong đó coi như là thật không thay đổi cố định. Mê là vậy là theo danh tướng nên tạo nghiệp ác thiện vô ký là vọng nghiệp vọng tưởng mà thôi. Đời là vở kịch mà chúng ta đóng vai trong đó diễn đúng 100 năm là vọng tưởng.

2.           Vô ngã: không tự tánh do cái khác sanh thì nó sanh là duyên khởi. Mỗi sát na đều thay đổi liên tục vô thường, vì ta không tìm được cái đầu tiên cực đầu không có, cực đuôi không thấy chấm dứt. Thân phận mình đi lang thang lưu vong vì không bao giờ tự đứng mà phải dựa vào cái khác mà có nên y là dựa, tha là cái khác, khởi ra là y tha khởi, cái khác mất thì nó mất. Cái khác cũng vô thường nên giả sanh cái giả và cứ vậy mà sanh ra giả sanh giả. Toàn người đứng dựa vào nhau mà đứng, mà đầu tiên không biết và cuối không biết. Hiện hữu không tự có gọi là vô ngã. Thân tâm sự vật đều vô ngã vô sở đắc vì không nắm được cái gì vì nó huyễn ảo như bóng nắng, bong bóng nước.Tìm cầu sự nghiệp trong bong bóng nước nên không ra mà cứ tìm hoài nên có đời sau luân hồi sinh tử là vậy. Không thật và do cái khác sanh ra không có cái ngã đích thực của nó nên vô thường từng sát na .Thành trụ hoại không là luật vô thường biến đổi.

3.           Tánh viên thành thật của các pháp là chân thật của các pháp không sinh không diệt bất biến tìm đến. Mê các pháp biết sai lầm thì giác các pháp là biết được sự thực của nó. Phật là vì biết sự thật các pháp là Như thật, tri kiến là thật tướng các pháp. Phật tri biết như thật các pháp khác chúng sanh tri là biết các pháp qua y tha khởi và tánh áp đặt danh tướng là tánh biến kế. Vì không thật nên nắm hay lìa đều sai hết, ngộ thiền quán là không Thủ không Xã đều sai hết. Không lấy không buông là Tâm không thủ không xã thì gọi là Vô tâm tức là Chân tâm. Sống như vậy không có tâm thương hay ghét có liễu tri biết để tồn tại . Không thủ hay xã là vô tâm là chân tâm.

4.           Các pháp là giả, thật tướng của nó là vô thường, mê thì cho là thật thì giác là biết nó là giả tức là không có bản ngã không có tự có gọi là vô pháp tướng là thật tướng. Người giác là nhìn sự vật là biết có tánh áp đặt, y tha khởi do duyên phân biệt sanh ra, đất nước gió lửa phải do Tâm mới gán vô làm nó hoạt động vì cần thức mới hiện được nên trong các pháp Tâm làm chủ là vậy. Các thức này là 3 thức: Ý thức tâm phân biệt liễu biết cảnh thực, Mặc na thức và A lại da thức. Biết duyên sanh, y tha khởi là không có thật thì hết tham sân si thì cực lạc. Thân chết đi thì sao? Vũ trụ do A lại da biến ra các pháp, mê rối loạn sanh ra thân này mà không biết thân ta rất nhỏ nhoi trong cái Phật tánh rộng bao la, khi ta chết đi là đi về cái bao la vũ trụ mà ta có mặt khắp mọi nơi chứ không hạn hẹp trong cái thân ta nhỏ nhoi. Thay đổi tư tưởng thì sẽ thấy giác ngộ cũng từ các pháp đó thay đổi tâm thức, bất tăng bất giảm đừng chấp thân mình. Thân giả do tạp nghiệp làm tái sanh. Thân đích thật mình là pháp thân và ngã thật mình là Chân ngã tức là chân tâm bao trùm vũ trụ. Mê và giác cũng từ các pháp này mà ra nên Phật pháp không rời thế gian pháp là vậy. Kinh Pháp hoa giống nhà vua dọn cổ tiệc vừa cho các quan, có ông quan chấp tự ty nên không dám ăn, mình có Phật tánh hiện ra khi tham sân si diệt thì căn bản to lớn. Luôn luôn biết nó là y tha khởi là giả thì sẽ an nhiên tự tại giác ngộ thường trực lúc nhớ lúc quên thì nếu quên thì nó biến trở lại y tha khởi biến kế. Nếu tu lòng vòng thì tu lâu lắm như không sát sanh, tu đạo tác thành cõi trời thành A la hán Thanh văn. Ngay cõi nhân học thẳng vô Phật trí đi thẳng vào lý đại thừa này. Duy thức và Pháp hoa đều không biết, đạt Trí đạo phải có duyên ba không (ba tự tánh đều là không) buông bỏ, bất thối chuyển là không đi lui dù chạy chậm hay mau. Tạo chủng tử bất thối chuyển đời sau sẽ đạt. Ba tánh vừa kể mà còn chấp thật có 3 tánh này là không được. Các pháp đó thực biến hiện duyên sanh thì tận cùng là không có, là tánh không. Ba vô tánh vì giải thích là vô vô hết cả 3 tánh nầy. Phải học 3 tánh này rồi từ chối nó lắp thêm 3 cái vô tánh, từ chối không ba tánh thì thành Không tánh là kết luận cuối cùng. Khởi Không tánh thì sai vì không tánh thiện ác không thật không giả không có không phải không mà nói gì không đúng nên gọi là bất khả thuyết bất khả tương nghị là vậy. Khi tâm thức chúng ta dừng lại thì căn bản Trí sanh ra gọi là trực giác, trực kiến tâm linh là đây. Từ thiện ác là nghiệp mà giờ tu về Trí phân định Phật trí và chúng sanh trí. Vô ngôn và không phân biệt thì trực giác xuất hiện là giác ngộ Phật tánh thành Phật. Học Phật trí có tâm lực lớn nên hành nhỏ tự nhiên có. Cách tu ở cõi dục thân ngũ dục là khổ nạng thì tu .Thân này là sắc nên tu là Xã cái dục. Pháp Xã là xã ngũ dục, ly lìa ngủ dục sanh ra hỷ lạc do dục nó mất nên đạt cảnh trời thứ nhất. Hỷ lạc giờ là nặng nên tiếp tu thiền lìa hỷ lạc lên Định rồi sanh ra hỷ lạc của định thì đạt được Ly là lìa sanh ra diệu lạc, xã diệu lạc là xã niệm thì thanh tịnh cao của sắc giới. Cõi dục tu đến xã niệm thì thành tứ thiền Xã nhưng Ngả chấp chưa phá được. Bỏ xã bên ngoài chưa bỏ cái ngã chấp được. Tu lên nữa là bất động là tu Định nên đạt đến không, đến thức bất động tạm thời dứt sự kềm chế thì động trở lại nên rơi xuống dưới. Tam giới là do ngã chấp vẫn chưa phá được ngã chấp nên chưa xóa tam giới kẹt trong tam giới chưa giải thoát. Thiền và định của phàm phu nên chưa giải thoát. Niệm phật trì chú là tạm dừng lại cảm giác thôi. Ý thức với 5 thức đầu sanh hoạt sanh ra tâm sở là tham sân si, thí dụ tâm sở sân hận thì niệm phật là trụ được 1 tâm sân tâm sở nằm trong sanh hoạt 8 thức. Ba thức sau cùng là sanh ra tam giới. Tam giới do 8 thức biến có tâm sở, có tâm vương rồi sanh ra tâm sở phụ thành tạo nghiệp thiện ác. Giờ hệ thống 8 thức có 3 thức có tâm vương và tâm sở , dừng tâm sở có hai loại thiện ác tâm sở phiền não gồm 6 món, thiện có 11 tâm thiện để tu tiếp giải thoát cốt lõi. Phiền não tâm sở trói buột vào luân hồi sa đọa cái ác đau khổ. Bước đầu tu là phá trừ phiền não tâm sở và tăng trưởng tâm thiện sở. Song song việc đó, phá bớt vô minh che Phật tính ta, đâm thủng được là phiền não tâm sở là tâm lý vui buồn cuộc sống. Tứ tổ mới dạy rằng: Bắc phong không làm động, tâm các ông là động như bão lớn. Tu mà đạt mình giữ tâm làm sao gió bắc phong thổi không động thì rất quí. Bước đầu là tu cắt phiền não tâm sở bỏ, giữ thiện tâm sở và giữ tâm vương. Cắt đuôi phiền não hỷ nộ ái ố dục lạc động tâm, khen chê buồn vui đừng áp đảo tâm mình. Bước thứ hai là Tứ diệu đế là siêng năng dứt điều ác đã sanh rồi dứt điều ác chưa sanh rồi phát triển điều thiện đã có và chưa có như Tứ chánh cần. Cứ thế là tu là dứt vọng, tâm động cũng là vọng nên sợ, vui buồn cũng là vọng. Phân tích rõ rằng cái gì loại ra, cái gì nuôi lên thì dễ tu hơn. Niệm ác phiền não trừ cho hết của Tịnh độ. Bước đầu tu là nhằm vào đây mà dứt. Thiện tâm sở cứ phát triển. Tóm lại duy thức dạy ta tu tập sau khi hiểu rõ thật tướng các pháp, hiểu rõ tâm mà áp dụng Tứ chánh cần quán chiếu thiền định cũng như tánh Không. Kết hợp Nguyên thủy Trung quán Duy thức thiền định duyên khởi vô ngã vô pháp.

Quý vị xem trọn các bài viết về Dòng sông tâm thức của Cư sĩ Phổ Tấn

Tham khảo:

  • Duy thức luận – TT Thích trí Siêu- Youtube.
  • Duy thức trong đời sống – Tagawa Shun’ei- Thuần bạch Huệ Thiên dịch (pdf)- Dieunhan.webly.com
  • Thức thứ tám Duy thức- TS Lâm như Tạng PDF.
  • Vấn đề bản ngã – Phương Bối- Thư Viện Hoa sen

Phổ Tấn

5/5 - (2 bình chọn)

Chia sẻ bài này với bạn bè

Bình luận