Dòng sông tâm thức: Thiền

Đức Phật thiền nên ngộ đạo chánh đẳng chánh giác. Thiền là phương tiện đi đến giác ngộ. Đạo Phật là đạo tuệ giác và từ bi, tuệ giác do thiền mà có. Vì thế thiền đi đôi với đạo, chúng ta nghiên cứu thiền đễ hiểu rõ con đường đạo Phật dẫn dắt chúng ta đi. Theo lịch sử thiền đầu tiên đức Phật thực hiện là phương cách đi đến giác ngộ gồm có 4 tánh chất: chỉ đi đến định, quán đi đến tuệ giác. Khi giác ngộ đức Phật có nói lại tiến trình giác ngộ của chính mình qua thiền, trong đó do kiếp trước Phật đã thiền rồi nên kiếp nầy Phật học thiền qua hai vị thầy dạy về thiền: Ngài chứng thiền Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Diệt thọ tưởng định. Sau khi 4 thiền: Sơ thiền nhị thiền tam thiền tứ thiền. Khi định được thì mới quán chiếu đạt 3 minh. Có nghĩa là đức Phật đã đạt 9 cái định gồm 4 định của 4 thiền Như lai và 4 định của sắc giới và định cuối cùng là diệt thọ tưởng định.  Phật dạy tiếp cho đệ tử là thiền Tứ niệm xứ còn gọi là thiền quán thân thọ tâm pháp. Tóm lại thiền áp dụng đầu tiên là thiền Nguyên thủy lấy chỉ định quán tuệ làm căn bản. Sang đến Đại thừa thiền được áp dụng tiếp theo là đến phần quán thì bắt đầu chuyển đổi tùy theo môn phái tùy theo kinh luận tùy theo Bồ tát để tu đạt được Bồ Tát và Phật vị. Nguyên thủy dùng thiền đạt được A la hán thì Đại thừa tiếp theo là thành Bồ Tát và Phật. Đó là theo quan điểm của Đại thừa là tu thành Phật chứ thật ra ngày nay thiền giác ngộ rồi A la hán hay Phật cũng đều như nhau, chẳng qua là Đại thừa bẻ láy phần quán đi theo kinh Bồ tát vị mà thôi thay vì quán Tứ niệm xứ, không có cái nào cao hơn cái nào.  Thiền Đại thừa phát triển từ thiền căn bản Nguyên thủy mà đi tiếp theo chứ không có một cái gì khác, nhưng Đại thừa có một nhánh là Thiền tông được phát triển từ Trung Hoa do Bồ đề đạt Ma từ Ấn độ mang sang lập thành Thiền tông thì có đổi khác. Đó là một nhánh thiền bất lập văn tự kiến tánh thành Phật rất khác với thiền đạo Phật gọi là thiền định. Thiền tông không phải là thiền định kể từ đấy. Thiền sư Suzuki gọi là thiền chia ra hai loại: khán tâm là tất cả thiền áp dụng của đạo Phật và kiến tánh là chỉ duy nhất thiền tông. Thiền tông mở rộng đến ngày nay qua rất nhiều sáng tạo khác nhau lấy từ nhánh Thiền tông của Bồ đề đạt Ma sư tổ nên có nhiều nhánh khác nhau. Chúng ta khảo sát các cốt lõi của từng thiền vừa nêu trên từ Nguyên thủy đến Đại thừa Thiền tông. Tuy nhiên trong đời sống có thiền yoga xã stress cũng được gọi là thiền.

Dòng sông tâm thức: Thiền

Thiền yoga

Thiền yoga được tóm lược ba chữ R: đầu tiên là R là relax tức là buông thõng cơ thể lấy thân ta làm điểm chính. Buông thõng là hít thở vô ra từ từ mọi cơ bắp trong thân thể xã ra nhẹ nhàng từ hơi thở đến toàn thân. Như vậy điều kiện thân thể body ta đang trạng thái nghĩ ngơi relax. Chính nhờ relax này mà ta không bị lên máu tension cũng không bị nhịp đập tim tăng hay hồi hộp. Cơ thể sẵn sàng yên nghỉ thì đi đến giai đoạn hai là release: buông xã. Bấy giờ là đi đến tâm ta, tu thân ta đã được yên ổn. Tâm ta hay chạy lung tung nay cho nó buông xã ra, bỏ ra tức là sau khi thân bỏ ra thì đến tâm cũng bỏ ra. Cuối cùng là Rest là nghĩ ngơi. Ta gom lại thân tâm ta đang nghĩ chơi, đi chơi yên nghỉ không có làm việc gì hết như đi nghỉ hè đi du lịch đi chơi. Tức là thân và tâm đều nghĩ ngơi hết. Xong ta bắt đầu nhắm mắt và ghi nhận gọi là tuệ chi đến hơi thở vô ra. Ta bắt đầu đọc: con thở vô dài con biết con thở vô dài. Con thở ra dài còn biết con thở ra dài. Con thở vô ngắn con biết con thở vô ngắn. Con thở ra ngắn con biết con thở ra ngắn. Cứ đọc và thở kèm theo mà chú ý mà không tập trung chú ý. Đọc như vậy 50 câu, cứ 10 câu mà không có một niệm gì khác xen vô là xong kế tiếp, nếu có niệm nào xen vô thì coi như bỏ bắt đầu đếm lại từ đầu. Đạt được 50 câu như vậy mà không có niệm nào xen vào thì đạt được Định. Rồi xã thiền, đó là thiền đời sống yoga.

a. Thiền Như lai thiền chỉ định: Tiến trình giác ngộ của đức Phật: Tiến Trình Giải Thoát Của đức Phật, khi Ngài Thành đạo,HT.Thích Minh Châu (trích đoạn):

Gia chủ Tapussa cùng với Tôn Giả Ananda đến hỏi đức Phật, vì sao giới cư sĩ gia chủ “Thọ hưởng các dục, vui thích các dục, ưa thích các dục, hoan hỷ các dục”, xem đời sống viễn ly của các vị xuất gia như là vực thẳm. Tuy vậy trong pháp và luật của Thế Tôn lại có những Tỳ Kheo trẻ tuổi phấn khởi trong sự xuất ly, tịnh tín, an trú, hướng đến xuất ly, và các vị này thấy trong sự xuất ly “đây là an tịnh”. Chính ở nơi đây là sự sai khác trong Pháp và Luật này giữa các Tỳ kheo và phần đông quần chúng. Sự ngạc nhiên và khâm phục của Tapussa được Thế Tôn chấp nhận, và đức Phật kể lại kinh nghiệm của Ngài trong tiến trình thành đạo của Ngài dưới gốc cây Bồ đề. Khi Ngài chưa thành bậc Chánh Giác Ngài diễn tả sự phấn khởi của Ngài trong tiến trình tu tập vượt qua các chướng ngại để đạt được các cảnh giới thiền, và vượt lên đạt được các cảnh giới thiền cao hơn, tất cả đòi hỏi một sự phấn đấu kiên cường, sáng suốt bền bỉ và tuần tự. Ngài Bắt đầu với cảnh giới Sơ thiền và đối tượng cần phải gạt bỏ là các dục để chứng được Sơ thiền. Ngài suy nghĩ: “Lành thay sự xuất ly! lành thay đời sống viễn ly”. Nhưng tâm của Ngài không có phấn khởi trong sự xuất ly ấy, không có tịnh tín, không có an trú, không có hướng đến, dầu ta có thấy ” đây là an tịnh”. Rồi Thế Tôn suy nghĩ: “Do nhân gì, do duyên gì, tâm ta không có phấn khởi trong xuất ly, không có tịnh tín, không có an trú, không có hướng đến, dầu ta có thấy: “đây là an tịnh”. Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ: “Vì ta không thấy sự nguy hiểm trong các dục, vì Ta không làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Lợi ích của xuất ly chưa được chứng đắc, Ta chưa được thưởng thức lợi ích ấy, do vậy tâm Ta không có phấn khởi trong xuất ly ấy. Không tịnh tín, không an trú, không có hướng đến. Này Ananda, về vấn đề ấy ta suy nghĩ như sau: “Nếu sau khi thấy sự nguy hiểm trong các dục, Ta làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được lợi ích trong sự xuất ly, Ta thưởng thức lợi ích ấy. Thời sự kiện này có thể xảy ra:” Tâm của Ta có thể phấn khởi trong xuất ly, tịnh tín, an trú và hướng đến, vì Ta có thấy” đây là an tịnh”.” Rồi này Ananda, sau một thời gian sau khi thấy được sự nguy hiểm trong các dục, Ta làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy, sau khi chứng được lợi ích trong sự xuất ly, Ta thưởng thức lợi ích ấy. Và này Ananda, tâm Ta hứng khởi trong xuất ly, tịnh tín, an trú và hướng đến, vì ta có thấy: “đây là an tịnh”. Này Ananda sau một thời gian Ta ly dục, chứng đạt và an trú sơ thiền. Do ta trú với sự an trú này, các tưởng tác ý câu hữu với dục vẫn hiện hành. Như vậy đối với ta là một chứng bệnh. Ví như này Ananda, đối với người sung sướng, đau khổ có thể khởi lên, như là một chứng bệnh. Cũng vậy, các tưởng tác ý câu hữu với dục vẫn hiện hành ở nơi Ta, như vậy, đối với Ta là một chứng bệnh”. “Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như sau: ” Vậy ta hãy chỉ tức các tầm và tứ… chứng đạt và an trú thiền thứ hai. Nhưng tâm của Ta không có hứng khởi đối với không có tầm ấy, không có tịnh tín, không có an trú, không có hướng đến dầu Ta có thấy” đây là an tịnh”. Này Ananda, về vấn đề ấy ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, tâm Ta không có hứng khởi đối với không có tầm ấy, không có tịnh tín, không có an trú, không có hướng đến, dầu Ta có thấy: “đây là an tịnh”. Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như sau:” Vì ta không thấy nguy hiểm trong các tầm, vì Ta không làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Lợi ích không có tầm chưa được chứng đắc, Ta chưa được thưởng thức lợi ích ấy. Do vậy tâm Ta không hứng khởi đối với không có tầm, không tịnh tín, không an trú, không hướng đến. Này Ananda, về vấn đề ấy Ta suy nghĩ như sau: “Nếu sau khi thấy nguy hiểm trong các tầm, Ta làm cho sung mãn nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được lợi ích không có tầm, Ta thưởng thức lợi ích ấy, thời sự kiện này xảy ra: ” Tâm của ta có thể hứng khởi không có tầm, tịnh tín, an trú, hướng đến, vì Ta thấy ” đây là an tịnh” Rồi này Ananda, sau một thời gian, sau khi thấy nguy hiểm trong các tầm, Ta làm cho sung mãn nguy hiểm ấy, sau khi chứng được lợi ích không có tầm, Ta thưởng thức lợi ích ấy. Và này Ananda, tâm Ta hứng khởi trong không có tầm, tịnh tín, an trú, hướng đến, vì Ta thấy “đây là an tịnh”. Này Ananda, sau một thời gian Ta diệt tầm và tứ… chứng đạt và an trú thiền thứ hai. Do Ta trú với sự an trú này, các tưởng tác ý câu hữu với tầm vẫn hiện hành nơi ta, như vậy đối với Ta là một chứng bệnh”. Này Ananda, Ta suy nghĩ như sau:” Vậy Ta hãy ly hỷ, chứng đạt và an trú thiền thứ ba. Nhưng này Ananda, tâm của Ta không có hứng khởi đối với không có hỷ ấy, không có tịnh tín, không có an trú, không có hướng đến, dầu ta có thấy “đây là an tịnh”. Này Ananda, về vấn đề ấy Ta suy nghĩ như sau: ” Do nhân gì, do duyên gì, tâm Ta không có hứng khởi đối với không có hỷ ấy, không có tịnh tín, không có an trú, không có hướng đến, dầu Ta có thấy “đây là an tịnh”. Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như sau: “Vì Ta không thấy sự nguy hiểm trong hỷ, vì ta không làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Lợi ích không có hỷ chưa được chứng đắc, Ta chưa được thưởng thức lợi ích ấy. Do vậy tâm ta không hứng khởi đối với không có hỷ ấy, không tịnh tín, không an trú, không có hướng đến. Này Ananda, về vấn đề ấy Ta suy nghĩ như sau: “Nếu sau khi thấy nguy hiểm trong hỷ, Ta làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được lợi ích trong không có hỷ, Ta thưởng thức lợi ích ấy, thời sự kiện này xảy ra: “Tâm của Ta có thể hứng khởi trong không có hỷ, tịnh tín, an trú, hướng đến, vì Ta có thấy “đây là an tịnh” “Rồi này Ananda, sau một thời gian, sau khi thấy nguy hiểm trong hỷ, Ta làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy, sau khi chứng được lợi ích trong không có hỷ, ta thưởng thức lợi ích ấy. Và này Ananda, tâm Ta hứng khởi trong không có hỷ, tịnh tín, an trú, hướng đến, vì Ta thấy “đây là an tịnh”. Này Ananda, sau một thời gian, Ta ly hỷ… chứng đạt và an trú thiền thứ ba. Do Ta trú với sự an trú này, các tưởng tác ý câu hữu với hỷ vẫn hiện hành. đây đối với Ta là một chứng bệnh. Ví như này Ananda, đối với người sung sướng đau khổ có thể khởi lên như là một chứng bệnh. Cũng vậy các tưởng, tác ý cùng khởi với hỷ vẫn hiện hình ở nơi Ta, như vậy đối với Ta là một chứng bệnh” Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như sau: “Vậy Ta hãy đoạn lạc, đoạn khổ… chứng đạt và am trú thiền thứ tư. Nhưng tâm của ta không có hứng khởi đối với không khổ, không lạc, không có tịnh tín, không có an trú, không có hướng đến, dầu Ta có thấy “đây là an tịnh”. Này Ananda, về vấn đề ấy, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, tâm Ta không hứng khởi đối với không khổ, không lạc ấy,không có tịnh tín, không có an trú, không có hướng đến, dầu Ta có thấy “đây là an tịnh”. Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như sau: “Vì Ta không thấy nguy hiểm trong xả lạc, vì ta không làm cho sung mãn nguy hiểm ấy. Lợi ích của không khổ, không lạc chưa được chứng đắc, Ta chưa được thưởng thức lợi ích ấy. Do vậy tâm ta không hứng khởi đối với không khổ, không lạc ấy, không tịnh tín, không an trú, không hướng đến. Này Ananda, về vấn đề ấy Ta suy nghĩ như sau:”Nếu sau khi thấy nguy hiểm trong xả lạc, ta làm cho sung mãn nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được lợi ích trong không khổ, không lạc, Ta thưởng thức sự lợi ích ấy, thời sự kiện này xảy ra:”Tâm của Ta có thể phấn khởi trong không khổ, không lạc, tịnh tín, an trú, hướng đến, vì Ta có thấy “đây là an tịnh”.”Rồi này Ananda, sau một thời gian sau khi thấy nguy hiểm trong xả lạc, Ta làm cho sung mãn nguy hiểm ấy, sau khi chứng được lợi ích trong không khổ, không lạc. Ta thưởng thức lợi ích ấy. Và này Ananda, tâm Ta hứng khởi trong không khổ, không lạc, tịnh tín, an trú, hướng đến, vì Ta thấy “đây là an tịnh”. Này Ananda, sau một thời gian Ta xả lạc, xả khổ… chứng đạt và an trú thiền thứ tư. Do Ta trú với sự an trú này, các tưởng tác ý cùng khởi với xả lạc vẫn hiện hành, như vậy đối với Ta là một chứng bệnh. Ví như này Ananda, đối với người sung sướng, đau khổ có thể khởi lên như là một chứng bệnh. Cũng vậy, các tưởng tác ý cùngkhởi với xả vẫn hiện hành nơi Ta, như vậy đối với Ta là một chứng bệnh”. Tiếp tục như vậy, Ngài chứng thiền Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Diệt thọ tưởng định. Tại Không vô biên xứ thiền, Ngài vượt qua các sắc tưởng, tại Thức vô biên xứ thiền, Ngài vượt qua Không vô biên xứ, chứng đắc Thức vô biên xứ. Tại Vô sở hữu xứ thiền, Ngài vượt qua Thức vô biên xứ và chứng đắc Vô sở hữu xứ. Tại Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài vượt qua Vô sở hữu xứ và chứng đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Tại Diệt thọ tưởng định, Ngài vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ và chứng đắc diệt thọ tưởng định:” Ta phấn khởi trong diệt thọ tưởng định, tịnh tín, an trú, hướng đến, vì Ta thấy “đây là an tịnh”. Này Ananda, sau một thời gian Ta vượt qua phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú diệt thọ tưởng định. Ta thấy với trí tuệ và các lậu hoặc đi đến đoạn diệt”. Như vậy là tiến trình giải thoát, thành đạo của đức Phật đi từ thiền thứ nhất, vượt qua thiền thứ hai, thiền thứ ba, thiền thứ tư, vượt luôn bốn thiền ở Vô sắc giới, chứng đạt Diệt thọ tưởng định, với trí tuệ đoạn trừ các lậu hoặc để thành bậc Chánh Giác. Cứ mỗi thiền chứng đạt, an trú và vượt qua, Thế Tôn cần phải nỗ lực kiên trì đối trị với các trở ngại bệnh chướng của mỗi thiền và cuối cùng, Ngài tuyên bố: “Cho đến khi nào, này Ananda, chín thứ đệ trú thiền chứng chưa được Ta thuận thứ nghịch thứ chứng đạt và xuất khởi, thời này Ananda, trong thế giới này, với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa môn và Bà la môn, chư thiên và loài người cho đến khi ấy, Ta không xác chứng Ta đã chứng được Vô Thượng Chánh đẳng Chánh Giác cho đến khi nào, này Ananda , chín thứ đệ trú thiền chứng này đã được Ta thuận thứ nghịch thứ chứng đạt và xuất khởi, thời này Ananda, trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa Môn và Bà La Môn, chư thiên và loài người, cho đến khi ấy Ta mới xác chứng rằng Ta đã chứng được Vô Thượng Chánh đẳng Chánh Giác. Tri và Kiến khởi lên nơi Ta, Ta biết rằng:” Bất động là tâm giải thoát của Ta. Đây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa”. (Kinh Tapussa Trích trong Tăng Chi Bộ Kinh III, số 41 trang 273). Như vậy, tiến trình giải thoát của đức Phật cho thấy sự giải thoát giác ngộ của Ngài là cả một quá trình tuần tự, từ Sơ thiền cho đến Diệt thọ tưởng định, để cuối cùng đoạn diệt các lậu hoặc, thành bậc Chánh đẳng Chánh Giác. Trải qua 9 thiền chứng như vậy, và tại mỗi thiền chứng Ngài phải phấn đấu vượt qua các chướng ngại, tiến lên thiền chứng kế tiếp, để cuối cùng chứng Vô Thượng Chánh đẳng Chánh Giác. Như vậy tiến trình thành đạo của Ngài  là một tiến trình tuần tự tiến lên, từng thiền chứng một tiến lên thiền chứng kế tiếp, không có vấn đề nhảy vọt, vượt qua nhiều cấp bậc một lần. Tiến trình này cũng chứng tỏ không có vấn đề thoát nhiên đại ngộ. Sự thành đạo của Ngài là cả một quá trình tu chứng kiên trì lâu dài bền bỉ, luôn luôn hướng thượng như trong Kinh đã diễn tả.

b. Thiền quán Tứ niệm xứ: Quán thân bất tịnh, quán thọ khổ đau, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã. Xin xem bài viết dòng sông tâm thức: Nguyên thủy cũng tác giả. Tóm lược lại gồm 4 bước: Bước thứ 1. Quán thân trên thân gồm thấy rõ biết rõ hơi thở vô ra. 2. Cảm giác toàn thân theo hơi thở vô ra. 3. Nội thân ngoại thân. 4. Đi đứng nằm ngồi co tay duỗi tay; 5. Nội tạng cơ thể ta; 6. Tứ đại đất nước gió lửa; 7. Thân ta sau khi chết. Bước thứ hai: quán thọ trên thọ: 1.Lạc thọ khổ thọ thuộc vật chất hay không thuộc vật chất; 2. Bất khổ bất lạc. Bước thứ ba: quán tâm trên tâm: 1.tâm tham sân si. 2. Tâm quảng đại, tâm định, tâm giải thoát có tánh sinh diệt. Bước thứ tư: quán pháp trên pháp gồm: 1. Năm triền cái: ái dục; sân hận, sanh diệt như thế nào; hôn trầm thụy miên sanh diệt; trạo hối sanh diệt; nghi sanh diệt. 2. Nội pháp và ngoại pháp;3. Ngủ uẩn tập diệt từng uẩn một. 4. Quán thân nội ngoại xứ sanh diệt; 5. Quán Thất giác chi có hay không có; 6. Quán Tứ thánh đế hiểu rõ lý diệt khổ và đạo đế. Quân Tứ niệm xứ mang lại sự đắc đạo là gì? Sau khi quán chiếu chi tiết từng bước một ta đạt được vô ngã diệt mất cái tôi, thân thể ta đi đứng có oai nghi của kẻ hiểu thấu quán thân bất tịnh. Ta chấp nhận cái chết và luân hồi. Ta nhận ra được tham sân si phiền não lậu hoặc chân tướng của nó. Nhận được rõ pháp vô ngã không thể có sự độc lập của cái tôi do duyên mà hình thành. Từ thân ta đến ngoại cảnh đều vô thường vô ngã đưa đến ta tu tĩnh lặng và nhận ra theo duy thức, ta chỉ là một dòng tâm thức trôi lăn luân hồi không ngừng nghỉ. Nhưng đó là biến đổi từ chân tâm trong ta. Từ đó ta loại trừ cái biển đổi bên ngoài mà nhận chân Chân tâm bên trong nằm trong thực tại từng sắc na hiện tiền còn gọi là vô thời không theo Trung quán luận. Cái biết do diệt mất thời gian không gian trống rỗng không và bình đẳng mọi vạn pháp đưa đến diệt bỏ vọng tâm là dòng tâm thức trôi lăn đó để thanh tịnh hoá tâm là Chân tâm bất diệt. Dựa vào duy thức luận ta dùng ý thức ở phần Chứng tự chứng phần là cái biết cái chứng sau cái biết của Tự chứng phần là cái biết thứ hai cái biết trực giác trực nhận đó là giác ngộ. Giác ngộ là nhận chân thật của vạn pháp. Nhận chân thực tướng vạn pháp thì diệt ngã và diệt tham sân si triệt để thì đó là giác ngộ. Lý thuyết có vẻ dễ dàng nhưng thực hành rất công phu và rất khó khăn. Lý do là quán thân thọ tâm pháp do hướng ngoại thì dễ hướng chính thân mình tâm mình thì rất khó, nên quán Tứ niệm Xứ có khi cả đời cũng chưa thành đạt.

Thiền khán tâm

Qua Đại Thừa, Thiền theo Bồ tát và kinh luận: Điển hình là Quán thế âm Bồ tát trong phần 25 vị Bồ tát Lăng nghiêm kinh, đó là quán 6 căn 6 trần 6 thức 7 đại tổng cộng 25. Trong đó Văn thù sư Lợi Bồ Tát chọn Quán thế âm Bồ tát là pháp tu tốt nhất để giúp chúng sanh và Ananda thời mạt pháp sau này:  (chánh văn). Bấy giờ Quán Thế Âm Bồ tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật và thưa với Phật rằng: “Thưa Thế Tôn! Con nhớ thuở xưa vô số Hằng Hà sa kiếp, đương thời có Đức Phật xuất hiện ở thế gian, hiệu là Quán Thế Âm. Và ở trước Đức Phật kia, con đã phát khởi Đạo tâm. Đức Phật kia đã dạy con vào chánh định qua sự tu hành của lắng nghe và tư duy.Trước tiên con chuyển thính giác hướng vào trong để vào dòng thánh và như thế âm thanh bên ngoài sẽ tiêu vong. Một khi sự lắng nghe hướng vào trong và âm thanh đã lặng yên, cả hai tướng, tiếng động và yên tĩnh, đều hoàn toàn chẳng sanh. Và khi dần dần tăng tiến như thế, những gì con nghe và sự nhận biết của những gì đã nghe đều chấm dứt. Một khi sự lắng nghe đó chấm dứt thì không còn gì để trụ nương. Sự nhận biết và vật của nhận biết trở thành rỗng không. Khi làm cho rỗng không của nhận biết đạt đến viên mãn cực độ, thì sự rỗng không đó và những gì đã rỗng không đều tan biến. Khi sanh diệt diệt rồi, tịch diệt sẽ hiện tiền.Hốt nhiên con siêu việt thế gian và xuất thế gian. Mọi thứ ở mười phương được chiếu sáng tròn đầy, và con được hai điều thù thắng.

1. Tâm con thăng lên để hợp nhất với bổn giác diệu tâm của mười phương chư Phật, và sức từ bi của con đồng nhất với chư Phật Như Lai.

2. Tâm con hạ xuống để hợp nhất với tất cả chúng sanh trong sáu đường ở khắp mười phương, và con có thể cảm nhận nỗi ưu bi và ước nguyện của các chúng sanh giống như của mình.

Thưa Thế Tôn! Do đã cúng dường Quán Thế Âm Như Lai và nhờ hồng ân của Như Lai kia đã truyền thọ cho con Kim Cang Chánh Định như huyễn qua sự tu hành của lắng nghe và tư duy, nên sức từ bi của con đồng nhất với chư Phật Như Lai. Do đó con có thể hiện ra 32 ứng thân để vào các quốc độ.

[1] Thưa Thế Tôn! Giả sử có những vị Bồ tát nào đã vào chánh định, tu hành tăng tiến, và được vô lậu. Nếu họ muốn chứng đắc thắng giải hiện tiền viên mãn, con sẽ hiện ra thân Phật mà thuyết Pháp và chỉ dẫn họ đến giải thoát.

[2] Giả sử có những vị thuộc hàng Hữu Học nào với tâm tịch tĩnh diệu minh. Nếu họ muốn chứng đắc thắng diệu hiện tiền viên mãn, con sẽ hiện ra thân Độc Giác mà thuyết Pháp và chỉ dẫn họ đến giải thoát.

[3] Giả sử có những vị thuộc hàng Hữu Học nào đã đoạn trừ 12 Nhân Duyên và do nhân duyên đã đoạn nên được tánh thù thắng. Nếu họ muốn chứng đắc thắng diệu hiện tiền viên mãn, con sẽ hiện ra thân Duyên Giác mà thuyết Pháp và chỉ dẫn họ đến giải thoát.

[4] Giả sử có những vị thuộc hàng Hữu Học nào đã được tâm không, khế hợp với Tứ Thánh Đế và đang tu Đạo để đạt đến tịch diệt. Nếu họ muốn chứng đắc thắng tánh hiện tiền viên mãn, con sẽ hiện ra thân Thanh Văn mà thuyết Pháp và chỉ dẫn họ đến giải thoát.

[5] Giả sử có những chúng sanh nào đã hiểu rõ lòng tham muốn, không còn vướng mắc ái dục của hồng trần, và muốn thân thanh tịnh, con sẽ hiện ra thân Phạm Vương mà thuyết Pháp và chỉ dẫn họ đến giải thoát.

[6] Giả sử có những chúng sanh nào muốn làm thiên chủ để thống lãnh chư thiên, con sẽ hiện ra thân Năng Thiên Đế mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[7] Giả sử có những chúng sanh nào muốn được thân tự tại để du hành khắp mười phương, con sẽ hiện ra thân Tự Tại Thiên mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[8] Giả sử có những chúng sanh nào muốn được thân tự tại để phi hành hư không, con sẽ hiện ra thân Đại Tự Tại Thiên mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[9] Giả sử có những chúng sanh nào thích thống lãnh quỷ thần để cứu hộ quốc thổ, con sẽ hiện ra thân thiên đại tướng quân mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[10] Giả sử có những chúng sanh nào thích thống lãnh thế giới để bảo hộ chúng sanh, con sẽ hiện ra thân của một trong Bốn Vị Thiên Vương mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[11] Giả sử có những chúng sanh nào thích sanh về thiên cung để sai khiến quỷ thần, con sẽ hiện ra thân thái tử của một trong Bốn Vị Thiên Vương mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[12] Giả sử có những chúng sanh nào thích làm vua ở nhân gian, con sẽ hiện ra thân vua mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[13] Giả sử có những chúng sanh nào thích làm chủ dòng tộc để người thế gian kính nể, con sẽ hiện ra thân trưởng giả mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[14] Giả sử có những chúng sanh nào thích đàm luận văn chương và sống đời trong sạch, con sẽ hiện ra thân cư sĩ mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[15] Giả sử có những chúng sanh nào thích quản lý quốc gia hoặc quyết định sự việc của tỉnh hay huyện, con sẽ hiện ra thân tể quan mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[16] Giả sử có những chúng sanh nào thích toán số và những kỳ thuật khác để bảo vệ cho cuộc sống chính mình, con sẽ hiện ra thân Bà-la-môn mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[17] Giả sử có người nam nào thích học trở thành tỳ kheo và thọ trì các giới luật, con sẽ hiện ra thân tỳ kheo mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[18] Giả sử có người nữ nào thích học trở thành tỳ kheo ni và gìn giữ các giới cấm, con sẽ hiện ra thân tỳ kheo ni mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[19] Giả sử có người nam nào thích giữ Năm Giới, con sẽ hiện ra thân Thanh Tín Nam mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[20] Giả sử có người nữ nào thích giữ Năm Giới, con sẽ hiện ra thân Thanh Tín Nữ mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[21] Giả sử có người nữ nào thích quản lý hậu cung hoặc chuyện của gia tộc, con sẽ hiện ra thân vương hậu, công nương, hay đại phu nhân mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[22] Giả sử có những bé trai nào muốn giữ thân đồng tử vĩnh viễn, con sẽ hiện ra thân đồng nam mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[23] Giả sử có những bé gái nào muốn giữ thân trinh nữ vĩnh viễn và không muốn thân thể xâm phạm, con sẽ hiện ra thân đồng nữ mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[24] Giả sử có vị trời nào muốn thoát khỏi cảnh trời, con sẽ hiện ra thân trời mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[25] Giả sử có loài rồng nào muốn thoát khỏi loài rồng, con sẽ hiện ra thân rồng mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[26] Giả sử có quỷ tiệp tật nào muốn thoát khỏi loài quỷ tiệp tật, con sẽ hiện ra thân quỷ tiệp tật mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[27] Giả sử có tầm hương thần nào muốn thoát khỏi loài tầm hương thần, con sẽ hiện ra thân tầm hương thần mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[28] Giả sử có phi thiên nào muốn thoát khỏi loài phi thiên, con sẽ hiện ra thân phi thiên mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[29] Giả sử có nghi thần nào muốn thoát khỏi loài nghi thần, con sẽ hiện ra thân nghi thần mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[30] Giả sử có đại mãng xà nào muốn thoát khỏi loài đại mãng xà, con sẽ hiện ra thân đại mãng xà mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[31] Giả sử có những chúng sanh nào vẫn yêu thích làm người, con sẽ hiện ra thân người mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

[32] Giả sử có những phi nhân nào, có hình tướng hay không hình tướng, có tưởng hay vô tưởng, muốn thoát khỏi loài phi nhân, con sẽ hiện ra thân phi nhân mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

Đây là 32 ứng thân vi diệu thanh tịnh để vào các quốc độ. Tất cả đều từ năng lực vi diệu vô tác của chánh định qua sự tu hành của lắng nghe và tư duy mà được thành tựu tự tại.Thưa Thế Tôn! Lại với năng lực vi diệu vô tác của Kim Cang Chánh Định qua sự tu hành của lắng nghe và tư duy, con có thể cảm nhận giống như của mình về nỗi ưu bi và ước nguyện của tất cả chúng sanh trong sáu đường ở ba đời mười phương. Cho nên với sự kết hợp của thân và tâm, con có thể làm cho các chúng sanh được công đức của 14 loại vô úy:

1. Do con không nghe theo âm thanh, nhưng trái lại con quán sát âm thanh của người đó ở bên trong, nên con có thể nghe âm thanh của chúng sanh khổ não khắp mười phương và khiến họ liền được giải thoát.

2. Do con đã xoay ngược và hồi phục tri kiến của mình, giả sử có những chúng sanh nào rơi vào trong lửa lớn, con có thể làm cho lửa chẳng thể đốt cháy họ.

3. Do con đã xoay ngược và hồi phục thấy nghe của mình, giả sử có những chúng sanh nào bị nước cuốn trôi, con có thể làm cho nước chẳng thể nhấn chìm họ.

4. Do con đã đoạn diệt vọng tưởng và không có tâm giết hại, giả sử có những chúng sanh nào lạc vào nước của quỷ, con có thể làm cho loài quỷ chẳng thể hại họ.

5. Do con đã thành tựu hợp nhất căn nghe với tánh giác của nghe, sáu căn hòa quyện và trở thành đồng nhất với căn nghe. Cho nên nếu có chúng sanh nào sắp bị hại, con có thể làm cho đao của người tấn công gãy từng đoạn. Binh khí của kẻ đó sẽ như chém vào nước, hoặc cũng như gió thổi vào tánh không dao động của ánh sáng.

6. Do tánh nghe của con xông ướp với diệu minh tinh nguyên nên chiếu sáng khắp Pháp Giới và phá tan đen tối của mọi nơi u ám. Cho dù có những chúng sanh nào ở gần cạnh quỷ tiệp tập, quỷ bạo ác, quỷ úng hình, quỷ hút tinh khí, hay quỷ xú uế thì mắt của chúng vẫn không thể nhìn thấy.

7. Do tánh của âm thanh hòa tan hoàn toàn khi con chuyển ngược sự lắng nghe vào trong, nên con lìa hư vọng của các trần và có thể làm cho những chúng sanh đang chịu gông cùm xiềng xích không bị nó trói buộc.

8. Do âm thanh đã diệt mất và sự lắng nghe viên mãn, nên con được sức từ bi biến khắp và có thể làm cho những chúng sanh đang đi qua đường hiểm không bị giặc cướp bóc.

9. Do căn nghe của con hợp nhất với tánh giác của nghe, nên con lìa trần cấu và sắc tướng chẳng thể ức chế. Con có thể làm cho tất cả chúng sanh nhiều lòng dâm dục được rời xa tham dục.

10. Do âm thanh thuần nhất rỗng không và chẳng chút trần cấu nên căn và cảnh viên dung, không có sự đối đãi hoặc có gì để đối đãi. Con có thể làm cho tất cả chúng sanh sân hận lìa khỏi sân hận.

11. Do trần cảnh tiêu vong và chuyển thành quang minh, Pháp Giới và thân tâm của con tựa như lưu ly trong suốt và không bị ngăn ngại. Con có thể làm cho tất cả chúng sanh với căn tánh ngu độn và tâm bất thiện vĩnh viễn lìa si ám.

12. Do hình sắc dung hòa và trở về tánh giác của nghe, con chẳng rời Đạo Tràng mà có thể vào thế gian và không hủy hoại tướng của thế giới. Con có thể cúng dường khắp chư Phật Như Lai ở mười phương nhiều như vi trần và làm Pháp Vương Tử ở bên cạnh của mỗi Đức Phật. Những chúng sanh nào không có con cái và cầu mong một bé trai, con có thể làm cho họ sanh được một bé trai với phước đức trí tuệ.

13. Do sáu căn viên thông với nhau và chiếu sáng bất nhị bao hàm các thế giới trong mười phương, tâm con trở thành như một tấm gương tròn to lớn và phản chiếu tánh không của Như Lai tạng. Con phụng sự mười phương Như Lai nhiều như số vi trần và lãnh thọ Pháp môn bí mật của chư Phật mà chẳng hề quên mất. Những chúng sanh nào không có con cái ở khắp Pháp Giới và cầu mong một bé gái, con có thể làm cho họ sanh được một bé gái với tướng mạo đoan chánh, đầy đủ phước đức, tánh nết nhu hòa, và mọi người thương mến.

14. Ở Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới này có một tỷ mặt trời và mặt trăng, với các vị Pháp Vương Tử bằng số lượng của số cát trong 62 sông Hằng, hiện đang trụ ở thế gian để tu hành Phật Pháp, làm mô phạm cho hàng trời người, và giáo hóa chúng sanh. Các ngài tùy thuận chúng sanh với trí tuệ phương tiện của mình và mỗi vị đều chẳng giống nhau. Do con đã chứng đắc viên thông qua bổn căn, nên căn tai phát huy nhiệm mầu như một cánh cửa. Sau đó thân tâm của con trở nên vi diệu, bao hàm vạn vật, và trùm khắp Pháp Giới. Vì vậy những chúng sanh nào thọ trì danh hiệu của con, con có thể làm cho họ được phước đức như người thọ trì danh hiệu của các vị Pháp Vương Tử bằng số lượng của số cát trong 62 sông Hằng. Phước đức của hai người ấy bằng nhau không khác.

Thưa Thế Tôn! Do sự tu tập của con đã đạt đến viên thông chân thật, nên phước đức của một danh hiệu con bằng phước đức của tất cả danh hiệu kia, không chút sai khác.

Và như thế, con có thể làm cho chúng sanh được công đức từ uy lực của 14 loại vô úy.

Lại nữa, thưa Thế Tôn! Do con chứng đắc viên thông và tu chứng Đạo vô thượng như thế, con lại khéo có thể đạt được bốn diệu đức chẳng thể nghĩ bàn của vô tác.

1. Do con giác ngộ điều vi diệu trong vi diệu ở nơi tâm của lắng nghe, và một khi sự lắng nghe hòa quyện vào tâm tinh nguyên của con, thì sự lắng nghe của con đối với thấy, ngửi, nếm, chạm, và biết trở thành không thể phân biệt với nhau. Toàn bộ sáu công năng viên dung hợp nhất để trở thành một bảo giác thanh tịnh. Cho nên, con có thể hiện ra nhiều loại thân hình vi diệu và có thể tuyên thuyết vô biên thần chú bí mật. Hoặc con hiện ra với 1 đầu, 3 đầu, 5 đầu, 7 đầu, 9 đầu, 11 đầu, và như vậy cho đến 108 đầu, 1.000 đầu, 10.000 đầu, hay 84.000 đầu kiên cố bất hoại. Hoặc con hiện ra với 2 tay, 4 tay, 6 tay, 8 tay, 10 tay, 12 tay, 14 tay, 16 tay, 18 tay, 20 tay, 24 tay, và như vậy cho đến 108 tay, 1.000 tay, 10.000 tay, hay 84.000 tay đang kết ấn. Trong những bàn tay của con hoặc có 2 mắt, 3 mắt, 4 mắt, 9 mắt, và như vậy cho đến 108 mắt, 1.000 mắt, 10.000 mắt, hay 84.000 mắt thanh tịnh báu. Hoặc hiện ra với từ bi, uy nghiêm, và định tuệ ở trong những thân hình đó, con có thể cứu hộ chúng sanh và làm cho họ được đại tự tại.

2. Do sự tu hành của lắng nghe và tư duy, con thoát ra khỏi sáu trần. Ví như âm thanh bị bức tường làm chướng ngại, nhưng giờ đây con không còn bị sáu trần làm chướng ngại nữa. Bởi vậy mà con có năng lực nhiệm mầu để hiện ra nhiều loại thân hình và tụng nhiều loại thần chú. Vì những thân hình cùng với thần chú đó có thể ban điều không sợ hãi cho các chúng sanh, cho nên hữu tình ở khắp vi trần quốc độ trong mười phương đều gọi con là bậc thí vô úy.

3. Do đạt đến viên thông từ sự tu tập căn bổn vi diệu, nên căn tai của con được thanh tịnh. Vì thế khi du hành qua bất kỳ thế giới nào, con đều làm cho chúng sanh có thể xả bỏ trân bảo và chẳng tiếc thân mạng để cầu mong con hãy thương xót cho họ.

4. Do chứng ngộ cứu cánh và chứng đắc Phật tâm, con có thể dùng muôn loại trân bảo để cúng dường mười phương Như Lai, và cũng như bố thí cho chúng sanh trong sáu đường ở khắp Pháp Giới. Những ai cầu mong có vợ sẽ được vợ, cầu mong con cái sẽ được con cái, cầu mong chánh định sẽ được chánh định, cầu mong trường thọ sẽ được trường thọ, và như vậy cho đến cầu mong đại tịch diệt sẽ được đại tịch diệt.Phật hỏi về viên thông. Từ cánh cửa của căn tai mà con đắc Viên Chiếu Chánh Định. Khi tâm duyên nơi cảnh vắng lặng nên con được tự tại. Rồi nhân bởi vào dòng chảy của bậc giác ngộ mà con đắc chánh định. Đây là phương pháp đệ nhất.

Thưa Thế Tôn! Thuở xưa Quán Thế Âm Như Lai đã ngợi khen con khéo dùng Pháp môn này để chứng đắc viên thông. Bấy giờ ở giữa đại chúng, Đức Phật kia đã thọ ký và đặt tên cho con là Quán Thế Âm. Do con có thể nghe thấu khắp mười phương với minh liễu viên dung, cho nên danh hiệu Quán Thế Âm của con cũng được biết khắp các thế giới trong mười phương.”

Bấy giờ ở trên tòa sư tử, Thế Tôn đồng một lúc phóng ra quang minh báu từ hai tay, hai chân, và trên trán. Ánh sáng đó chiếu rất xa để rót vào đỉnh đầu chư Như Lai cùng những vị Pháp Vương Tử Bồ tát và số lượng đó nhiều như vi trần trong mười phương. Chư Như Lai kia cũng đồng một lúc phóng ra quang minh báu từ hai tay, hai chân, và trên trán. Những ánh sáng đó nhiều như vi trần từ khắp mười phương đến để rót vào đỉnh đầu của Đức Phật cùng chư đại Bồ tát và những vị A La Hán ở trong Pháp hội. Khắp rừng cây và ao hồ đều vang Pháp âm. Các luồng ánh sáng hòa quyện như những dây tơ của lưới giăng báu. Khi ấy toàn thể đại chúng thấy được việc chưa từng có và tất cả đều đắc Kim Cang Chánh Định. Tiếp đến, trời mưa hoa sen trăm báu với màu xanh, vàng, đỏ, trắng và chúng xen kẽ rơi xuống. Hư không khắp mười phương trở thành màu sắc của bảy báu. Sơn hà đại địa của Thế giới Ta Bà đồng thời biến mất. Duy chỉ thấy mười phương vi trần quốc độ hợp thành một thế giới và tiếng ca vịnh thanh tịnh tự nhiên trỗi lên.Bấy giờ Như Lai bảo Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát:“Ông nay hãy quán sát những gì đã vừa nói của 25 vị thánh, gồm có chư đại Bồ tát và những vị A La Hán đã đạt đến bậc Vô Học, về phương pháp mà họ bước lên chánh Đạo lúc tối sơ. Ai nấy đều nói rằng phương pháp tu tập để đạt đến viên thông của mình là đệ nhất. Tuy những phương pháp đã nói ở trước và sau có sai khác, nhưng sự thật thì không có cái nào là ưu việt hay hạ liệt. Nhưng bây giờ Ta muốn chỉ dạy A Nan đạt đến khai ngộ, thế thì phương pháp nào trong 25 vị thánh là phù hợp với căn cơ của ông ấy? Và sau khi Ta diệt độ, phương pháp nào sẽ dẫn chúng sanh của thế giới này vào Bồ tát Thừa để cầu Đạo vô thượng? Môn phương tiện nào sẽ giúp họ dễ được thành tựu?”Khi đã lãnh thọ thánh chỉ từ bi của Như Lai, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật, rồi nương uy thần của Phật và nói kệ đáp rằng: Phật đã hỏi con phương tiện nào; Cứu hộ chúng sanh thời Mạt Pháp; Những vị phát tâm lìa thế gian; Dễ dàng thành tựu Đạo tịch diệt; Pháp môn Quán Âm là tối thượng;Tất cả phương tiện tu tập khác; Đều cần uy thần của Phật giúp;Tỉnh ngộ thế sự xả trần lao; Nhưng không phải Pháp tu học thường; Căn lành sâu cạn đồng thuyết Pháp; Con nay đảnh lễ Phật Pháp tạng; Những vị vô lậu chẳng nghĩ bàn; Chúng sanh tương lai nguyện gia bị;Với phương pháp này không hoài nghi;Đây là phương tiện dễ thành tựu; Rất hợp để dạy cho A Nan; Cùng chúng trầm luân thời Mạt Pháp; Chỉ cần tu tập căn tai này; Viên thông siêu vượt những môn khác; Đó là con đường đến chân tâm”; Khi ngài A-nan và các đại chúng nghe được lời khai thị sâu xa, thân tâm của họ an nhiên minh liễu. Quán sát về giác ngộ và đại tịch diệt của Phật, họ được ví như có người phải đi xa vì công việc. Mặc dù chưa có thể quay về, nhưng người ấy biết rất rõ con đường trở về nhà của mình. Toàn thể đại chúng trong Pháp hội, thiên long bát bộ, những vị Hữu Học ở Nhị Thừa, cùng tất cả sơ phát tâm Bồ tát, tổng số lượng nhiều như số cát của mười sông Hằng, họ đều chứng đắc bổn tâm, xa rời trần cấu, và được Pháp nhãn thanh tịnh. Khi vừa nghe xong những bài kệ, tỳ kheo ni Tánh trở thành bậc A La Hán. Vô lượng chúng sanh đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Như vậy thiền theo Bồ tát điển hình là Bồ tát Quán âm gọi là thiền Quan âm là gì? Đó là theo cách tu tập và chứng đắc của các ngài mà thiền quán sau khi thiền định. Quán chiếu là dùng căn trần thức đại mà quán chiếu bản chất của nó. Thiền theo các vị Bồ Tát là đi cùng ngài cùng một tần số với năng lượng của các ngài như thế khi ta khẩn cầu xin họ giúp thì kêu gọi đó mới có được sự ứng nghiệm. Chúng ta không thể gõ cửa tâm thức các ngài Bồ tát mà tâm chúng ta không thiền định đi cùng với tâm của quí ngài. Như Quán thế âm Bồ tát đã tu như kể trên đắc quả vị Bồ tát thì ít nhất tâm chúng ta cũng thiền định và thiền quán như ngài dùng nhĩ căn mà quán chiếu.

– Thiền Hoa nghiêm: Định xong đến quán thì quán đến Nhất thiết duy tâm tạo, nhất tâm Chân như pháp giới duyên khởi. Hoa nghiêm tông: Nguyên lý tương sinh tương khởi chỉ ra rằng hết thảy vạn vật trong vũ trụ đều có quan hệ mật thiết với nhau, không có bất cứ một vật thể, một hiện tượng tinh thần hay thể chất nào lại có thể tự nó sinh khởi và tồn tại, cho đến một hạt bụi rất nhỏ cũng không thoát ra ngoài nguyên lý này. Vì thế, sự sinh khởi của một sự vật có liên quan đến mọi sự vật khác, và ngược lại, nó cũng chịu sự chi phối của tất cả. Nguyên lý này thường được phát biểu một cách khái quát như sau: “Cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt.”

Sự tương sinh tương khởi như vậy thường được gọi là “y tha khởi”, nghĩa là mọi sự sinh khởi đều phải dựa vào “cái khác”. Một cách hình tượng hơn, các nhà nghiên cứu kinh Hoa nghiêm thường gọi tên nguyên lý này là “trùng trùng duyên khởi”. Bậc thứ tư là Đốn giáo, dạy về khả năng đốn ngộ, hay giác ngộ tức thời. Giáo lý này dạy rằng chỉ cần giũ sạch mọi phiền não khách trần che lấp thì tự tánh giác ngộ sẽ tự nhiên hiển bày. Điều này phụ thuộc nơi sự trực nhận tánh giác của chúng ta chứ không phải do sự khổ công tu hành mà được. Vì vậy, nếu có thể trực nhận thì ngay tức thời chỉ trong một sát-na đã có thể đồng với chư Phật, bằng không thể trực nhận thì dù có trải qua muôn kiếp tu hành cũng vẫn là ở trong vòng mê muội. Đây là phần giáo lý cao siêu chỉ dành cho các bậc thượng căn thượng trí, nếu người sơ cơ mà tiếp nhận giáo lý này thì chắc chắn sẽ dẫn đến những sự lầm lạc rất nguy hại. Các nhà học Phật thường so sánh phần giáo lý này của Hoa nghiêm tông với thuyết đốn ngộ của Thiền Nam tông, được xiển dương kể từ Lục tổ Huệ Năng.

– Thiền Lăng nghiêm : Định xong quán ngủ uẩn do tâm biến hiện vạn pháp do tâm biến hiện rồi vận hành do duyên khởi. Quán chiếu về tánh thấy tánh nghe rồi chuyển dần đến tánh giác của tâm. Áp dụng quán chiếu 6 nút thắt mỡ trong kinh Lăng nghiêm: Phương pháp mở 6 nút“.. văn sở văn tận. Tận văn bất trụ, giác sở giác không. Không giác cực viên, không sở không diệt. Sanh diệt ký diệt, tịch diệt hiện tiền.”

Năng văn sở văn: Miệng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” (năng văn), nhĩ căn nghe âm thanh. Phải nhận kỹ ra từng tiếng từng chữ khi đó mới gọi sở văn.

Nút buộc thứ nhất: Trần cảnh diêu động. Sau một thời gian nửa tiếng, thì không dùng miệng để niệm Phật. Mà chỉ niệm ở trong tâm. Lúc nầy thì không còn âm thanh (sắc trần) cho nên không nghe bằng nhĩ căn nữa, mà chỉ dùng tánh nghe vào bên trong. Lúc nầy hành giả không để tâm ruổi rong theo thanh trần, mà xoay tánh nghe vào chân tánh, đó là danh hiệu Phật đang tuôn chảy liên miên bất tận thành một dòng tâm (văn sở văn tận). Quay tánh nghe vào bên trong có nghĩa là không nghe âm thanh bên ngoài, mà thay vì vậy, quay trở lại, hướng vào bên trong, để nghe tự tánh của mình. Cũng có nghĩa là nhiếp vào trong thân tâm của mình. ‘Văn trung tánh nghe.’ Nên đặc biệt chú ý chỗ nầy: chẳng phải nghe trong thiệt thức (miệng), chẳng phải là trong nhĩ thức, chẳng phải là trong ý thức…, mà chính là trong tánh nghe không sanh không diệt, cũng chính là tánh Như Lai tạng. Khi quên hết các thanh trần từ bên ngoài, thì không còn tướng động, tức là “Nhập lưu vong sở.” Vong tức là giải thoát, Sở tức là thanh trần.Tướng sở nhập cũng vắng lặng, hai trạng thái động tịnh rõ ràng chẳng còn sanh. Cội nguồn của sáu căn và sáu trần cũng đều dừng bặt, tức là đã mở ra được nút buộc thứ nhất của trần cảnh diêu động.

Nút buộc thứ hai của cái tịnh: Sắc Ấm. Khi đạt đến cực điểm cảnh giới tịch lặng, thì tướng động và tĩnh cũng vắng bặt. Do cảnh tịnh chính là khu vực của sắc ấm. Người tu hành thường cho là cảnh giới tịnh hay an lạc, cho nên rơi vào 10 tưởng giới của sắc ấm (bài rõ trong kinh Lăng Nghiêm). Nên không được trụ vào cảnh tịnh. Bởi vì còn chấp vào tịnh thì sẽ bị động. Còn động còn tịnh thì vẫn là pháp nhị nguyên. Phật pháp bất nhị. Khi đến được hai cảnh động tĩnh đều chẳng sanh, thì mới đến được cái gọi là sở nhập vắng lặng. Lúc đó, tức là đã mở ra được nút buộc thứ hai của cái tịnh. Thanh trần hoàn toàn vắng bặt, hai tướng động tĩnh rõ ràng chẳng còn sanh trở lại nữa. Tức là đã phá trừ được sắc ấm.

Nút buộc thứ ba của các căn: Thọ Ấm. Tình trạng như vậy tăng dần, các tướng năng văn, sở văn đều hết sạch. Các kết buộc do nơi các căn đã được mở, tiến tu dần dần, tăng cường thêm định lực, thế nên các căn năng văn tuỳ theo chỗ sở văn đều dứt sạch, cũng chẳng còn năng thọ và sở thọ. Tức là đã mở ra được nút buộc thứ ba của các căn, đồng thời cũng phá luôn được năm thức trước của thọ ấm.

Nút buộc thứ tư của các biết: Tưởng Ấm. Cũng không dừng trụ trong chỗ hết sạch năng văn sở văn, đạt đến năng giác sở giác đều vắng lặng. Cái năng văn và sở văn đều đã tiêu sạch, còn lại tri giác, còn lại ngã tướng, cho nên cần phải tiếp tục tiến tu (Tận văn bất trụ). Cho đến chỗ ‘ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm,’ đạt đến chỗ biết mà chẳng biết, giác mà không giác, đến khi mà giác và sở giác đều không thì mới mở được gút thứ tư về cái biết. Đến lúc năng giác và sở giác đều không còn, mới gọi là hoàn toàn không chấp trước, tức là phá trừ được ý thức thứ sáu tưởng ấm (giác sở giác không).

Nút buộc thứ năm của các không giác: Hành Ấm. Không giác viên mãn tột bậc, thì các tướng năng không và sở không đều tịch diệt. Cái năng giác và sở giác đều đã không, cần phải tiến tu, tham cứu cái không ấy nương vào đâu mà có, đến chỗ tánh không của cái biết – không giác, rốt ráo viên mãn thì năng không và sở không đều tiêu trừ sạch (Không giác cực viên). Tâm có khả năng tạo tác bị tiêu trừ, và cảnh giới do tâm ấy làm cho trở thành không cũng tiêu trừ luôn, đến mức cũng chẳng còn cái không. Vì hễ còn cái không, thì mình vẫn còn chấp trước vào tánh không. Và bây giờ ngay cả tánh không cũng chẳng còn, tức là mở được gút thứ năm của không giác, lúc nầy đồng thời phá trừ luôn thức thứ bảy hành ấm.

Nút buộc thứ sáu của ý niệm: Thức Ấm. Sinh diệt đã diệt, thì bản tánh tịch diệt hiện tiền. Cái năng không và sở không đều tịch diệt, vẫn còn ý niệm ‘diệt,’ mà còn diệt tức còn sinh, nên cần phải tiến tu tiếp tục, cho đến khi tướng sinh và tướng diệt đều trừ sạch, mới có thể mở được nút thứ sáu về ý niệm ‘diệt.’ (không sở không diệt) Đồng thời phá trừ luôn được thức thứ tám, A-lại-da thức của thức ấm.

Sanh diệt ký diệt, tịch diệt hiện tiền: Hai chữ ‘sinh diệt,’ vốn là chỉ cho các nút buộc, do động hết thì sanh tịnh sanh, căn diệt thì giác sanh, giác diệt thì không sanh, không diệt thì diệt sanh, sáu nút buộc nầy chính là pháp sanh diệt. Tướng diệt rất khó mở, cần phải tiêu trừ toàn bộ tướng diệt thì mới có thể đạt đến chỗ không sanh không diệt, mới có thể chính mình thấy được bản lai diện mục. Nay sáu nút buộc đã được mở, ngũ ấm đã được phá trừ hoàn toàn, vọng đã hết sạch rồi thì toàn chân hiển bày, tức là sinh diệt đã diệt rồi, thì tịch diệt hiện tiền, chứng đắc rốt ráo viên thông.

– Thiền Pháp hoa: Định xong quán đến Bồ tát hạnh và nguyện, quán đến Phật tánh trong chúng sanh nhất thừa. Tất cả thiền theo kinh là chủ yếu quan sát theo cốt lõi tụng kinh dạy ta tu tập trong đó dùng quán sát sau khi thiền định về cốt lõi của kinh. Xin xem bài viết cùng tác giả về tôi học kinh Hoa nghiêm, Pháp hoa…Phép tu của Thiên Thai tông dựa trên phép thiền Chỉ quán, và chứa đựng các yếu tố mật tông như Chân ngôn (thần chú, sa. mantra) và Mạn-đồ-la (sa. maṇḍala). Tông này sau được Truyền giáo Đại sư Tối Trừng (767-822), đệ tử của Tổ thứ 10 Thiên thai tông, truyền qua Nhật trong thế kỉ thứ 9. Tại đây, Thiên Thai tông đóng một vai trò quan trọng.Thiên Thai tông được xem như một tông phái rộng rãi vì tổng hợp, chứa đựng nhiều quan điểm của các phái khác. Sự tổng hợp này phản ánh trong quan điểm “năm thời, tám giáo” (Ngũ thời bát giáo 五時八教), trong quan niệm mọi loài đều có Phật tính và vì vậy Thiên Thai tông có đầy đủ phương tiện đưa đến giác ngộ. Các bộ luận quan trọng của Thiên Thai tông là: Ma-ha chỉ quán (sa. mahā-śamatha-vipāśyanā), Lục diệu pháp môn và những bài luận của Trí Di về kinh Diệu pháp liên hoa. Phép Chỉ quán của Thiên Thai tông có hai mặt: Chỉ là chú tâm và qua đó thấy rằng mọi pháp đều không. Nhờ đó không còn ảo giác xuất hiện. Quán giúp hành giả thấy rằng, tuy mọi pháp đều không, nhưng chúng có một dạng tồn tại tạm thời, một sự xuất hiện giả tướng và lại có một chức năng nhất định.

– Thiền Tịnh độ: Riêng trong pháp môn Tịnh Độ: Thiền trong Tịnh Độ là nhất tâm bất loạn là đạt định trong Tịnh độ rồi mới bắt đầu nhập vào cảnh giới của Phật A di đà bằng quán chiếu cảnh giới Thế gian Tịnh độ tại đây , từng sắc na hiện tiền. Pháp môn Tịnh Độ dễ dàng nhập cảnh giới tịnh độ vì đòi hỏi chỉ là đạt đến Định là đủ. Quán chiếu của tuệ giác không đòi hỏi nhiều vì khi nhập được cảnh giới Tịnh Độ của Phật A di đà là hành giã thanh tịnh hoá tâm cảm nhận lạc thọ cõi Tịnh Độ và an trú trong cõi ấy. Nhất tâm bất loạn là tụng niệm Phật đến độ ta và Phật nhập lại thành một, chỉ còn một niệm Phật mà thôi. Tụng niệm Phật đến định như thiền chỉ của Nguyên thủy là được rồi. 12 vì tổ của Tịnh Độ tông phái là thiền sư của thiền tông vì họ đã nhập vào định từ lâu rồi nên họ tu niệm Phật nhất tâm bất loạn đạt đến dễ dàng. Tịnh Độ tông là nhập vào cõi Tịnh độ ngay lúc còn sống tốt hơn là đợi đến chết mới đi về cõi Tịnh Độ. Đó là thế gian Tịnh Độ. Tịnh Độ theo Phật Di Đà có 48 đại nguyện trong kinh Vô lượng thọ hòa hợp với môn phái Thiền tông thành Thiền Tịnh song tu. Chúng sanh dù tạo nghiệp ác chỉ cần có đủ niềm tin vào Phật A Di Đà hết lòng tụng niệm danh hiệu ngài thì ngài rước về cõi Tịnh Độ nghe giảng Phật pháp. Cần có tự lực và tha lực mới vãng sanh về cõi Tịnh.

Thiền kiến tánh

  • Thiền tông do lục tổ Huệ năng vô niệm vô tướng vô trụ. Pháp Bảo Đàn kinh :“vô niệm là đối với niệm mà không niệm”,“đối trên các cảnh tâm không nhiễm gọi là vô niệm. Đối trên niệm thường lìa các cảnh, chẳng ở trên cảnh mà sanh tâm. Nếu chỉ trăm vật chẳng nghĩ, niệm phải trừ hết, một niệm dứt tức là chết, rồi sẽ sanh nơi khác, ấy là lầm to”,“Này Thiện tri thức, thế nào lập vô niệm làm tông? Chỉ vì miệng nói thấy tánh, người mê ở trên cảnh có niệm, trên niệm lại khởi tà kiến, tất cả trần lao vọng tưởng từ đây mà sanh”,“Này Thiện tri thức, vô là vô việc gì? niệm là niệm vật nào? Vô đó là không có hai tướng, không có các tâm trần lao; niệm là niệm Chân như Bản tánh. Chân như tức là thể của niệm, niệm tức là dụng của Chân như, Chân như Tự tánh khởi niệm, không phải mắt tai mũi lưỡi hay khởi niệm, Chân như có tánh cho nên khởi niệm, Chân như nếu không có tánh thì mắt tai sắc thanh chính khi ấy liền hoại.”“Này Thiện tri thức, Chân như Tự tánh khởi niệm, sáu căn tuy có thấy nghe hiểu biết mà không nhiễm muôn cảnh, mà Chân tánh thường tự tại, nên kinh nói “hay khéo phân biệt các pháp tướng mà đối với nghĩa đệ nhất không có động”.“Sao gọi là vô niệm? Nếu thấy tất cả pháp mà tâm không nhiễm trước, ấy là vô niệm, dụng tức khắp tất cả chỗ, cũng không dính mắc tất cả chỗ, chỉ thanh tịnh nơi bản tâm khiến sáu thức ra sáu cửa đối trong sáu trần không nhiễm không tạp, đi lại tự do, thông dụng không kẹt, tức là Bát-nhã tam-muội, tự tại giải thoát gọi là vô niệm hạnh.”“ông nên biết, Phật vì tất cả người mê nhận thân năm uẩn hòa hợp làm thể tướng của mình, phân biệt tất cả pháp cho là tướng ngoại trần, ưa sanh, ghét tử, niệm niệm đổi dời, không biết là mộng huyễn hư giả”.“Này Thiện tri thức, người ngộ được pháp vô niệm thì muôn pháp đều thông, người ngộ được pháp vô niệm thì thấy cảnh giới của chư Phật, người ngộ được pháp vô niệm thì đến địa vị Phật.” Để nói rõ thêm về pháp tu Vô niệm, tổ Huệ Năng chỉ rõ thêm hai pháp là Vô tướng và Vô Trụ để làm sáng tỏ thêm.Tổ nói: “Đối trên các pháp mỗi niệm không trụ, tức là không phược (không bị trói buộc), đây là lấy vô trụ làm gốc“. Không trụ vào các Niệm nên không còn bị dính mắc, bị chi phối. Còn làm sao không trụ? Tổ chỉ thêm:“chấp tất cả tướng tức tâm, lìa tất cả tướng tức Phật”“ngoài lìa tất cả tướng gọi là vô tướng, hay lìa nơi tướng tức là pháp thể thanh tịnh, đây là lấy vô tướng làm thể” . Đó cũng là theo ý kinh Kim Cang:“Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. (nghĩa: Phàm những gì có tướng đều là hư vọng”) (Kinh Kim Cang, đoạn 5)”Nếu không thấy các pháp là hư vọng, vẫn chấp chặt vào các tướng của muôn pháp và trụ vào đó thì chẳng bao giờ đạt được Vô niệm, dù tìm mọi cách để bặt đường suy nghĩ.Có ý kiến lại nói Vô tướng là thấy người mà không cần biết đó là đàn ông hay đàn bà, không cần biết tên người đó là gì … Những ý kiến kỳ lạ như vậy không phải là không có, chỉ những người không chịu tìm hiểu mới làm như vậy.Thiền sư Huệ Hải còn nói rõ về Vô trụ: “Tâm không trụ là tâm Phật.”“Người đời do mê bên ngoài nên chấp tướng, mê bên trong nên chấp không. Nếu hay nơi tướng mà lìa tướng, nơi không mà lìa không thì trong ngoài chẳng mꔓNếu ở tất cả chỗ mà không trụ tướng, ở trong tướng kia, không sanh yêu ghét, cũng không thủ xả, chẳng nghĩ các việc lợi ích thành hoại v.v… an nhàn điềm tịnh, hư dung đạm bạc, đây gọi là nhất tướng tam-muội.”Nói tóm lại tổ Huệ Năng, qua cuốn Pháp Bảo Đàn kinh đã chỉ cho chúng ta pháp môn Vô niệm, Vô tướng, Vô trụ và đưa Thiền tông lên một bước tiến quan trọng. Vô niệm không có nghĩa đơn giản là kềm giữ để không có niệm nào. Niệm vẫn luôn tự khởi do hoạt động của bộ óc con người, trong đời sống hàng ngày vẫn cần có những sự suy tính, phân biệt, như là đói thì nghĩ đến ăn, mệt thì nghĩ đến ngủ. Nhưng nếu coi kỹ lại thì thấy trong đầu chúng ta, ngày cũng như đêm, lúc nào cũng ồn ào đủ mọi thứ chuyện, không lúc nào ngừng. Vô niệm là không có những tà niệm, như thiền sư Huệ Hải đã nói. “Vô niệm tức là không có cảnh giới hay đối tượng nào cả.” Đứng về phương diện kinh điển mà nói thì đó là pháp môn “bất nhị”, là trí bát nhã.
  • Thiền Tánh Không: Thích thông Triệt: không nói thầm trong não thì có định!: Ta đã hết rồi chuyện thế gian; Tâm ta thanh thản như mây ngàn; Đâu còn chi nữa mà đem nói; Ý bặt, lời không, óc rỗng rang…. Chương trình chụp hình não bộ với viện Đại Học Tuebingen đã chứng minh qua khoa học một số điều mà Thầy Thông Triệt đã tự chứng, đó là sự hiện hữu và vị trí của:-    bốn Tánh: Tánh Thấy, Tánh Nghe, Tánh Xúc Chạm và Tánh Nhận Thức Biết,-    các vùng Ý Căn, Trí Năng, Ý Thức ở thùy trán, và cơ chế “đường mòn ngôn ngữ” trong não bộ. Qua các thử nghiệm Thầy cũng đã chứng minh được là vị trí của Tâm Tathā tức là Tánh Nhận Thức Biết là chức năng của vùng Precuneus thuộc vỏ não.Trong tiến trình chụp hình não bộ, năm 2010, tiến sĩ Michael Erb đã chụp hình não bộ của Thầy khi Thầy thực hành 4 tầng thiền định đó là: định có tầm có tứ, định không tầm không tứ, định chánh niệm tỉnh giác, và chân như định hay định bất động. Thầy đã phối hợp tinh túy của 4 hệ:  Hệ Nguyên Thủy,  Hệ Theravàda, Hệ Phát Triển và Thiền Tông với khoa học não bộ để vạch ra con đường thực hành Thiền hướng dẫn thiền sinh tới  kinh nghiệm cái Biết không lời của Tánh Giác và cuối cùng thể nhập Chân Như. Qua sự đối chiếu khoa học não bộ với Thiền, Thầy đã thể hiện được hoài bão chứng minh  Thiền Phật giáo là một môn khoa học tâm linh thực nghiệm, và Thầy đã thiết lập ra những chiêu thức và kỹ thuật thực hành rõ ràng để đưa thiền sinh đến kết quả cuối cùng của Thiền. 

Đứng về mặt khoa học thì ý thức mind được cấu tạo ngay từ lúc đứa bé lọt lòng bởi các ion positive và negative trong các liquid solution do mineral khác nhau như K+ Na-… sự khác biệt nầy dưới từ trường trái đất sẽ tạo thành một dòng điện điện từ chạy trong cơ thể từ các neuron thần kinh ngoài da đến não bộ qua các synapse. Như vậy ý thức mind tất nhiên phải có trừ khi chết thì mới hết. Vậy chúng ta chỉ có thể thiền để kiểm soát hoạt động não bộ ở các vùng ý thức vùng tiềm thức và vô thức. Ý thức này không thể cho nó ngừng lại dừng lại được trừ khi chết. Chúng ta thiền để kiểm soát tâm là thấy vọng không theo, hay chuyển vọng bằng chánh niệm hay dùng công án để lấp vào “gap” của ý thức đó. Chúng ta không thể làm cho nó triệt tiêu dừng lại là không nói như thiền tánh Không nầy. Không thể bắt nó không có niệm nổi lên tức là không có ý thức hay dùng tánh thấy tánh nghe để thay vào ý thức. Mind là tâm thì nó có như hơi thở của ta vậy, chỉ khi chết thì nó mới triệt tiêu. Không biết Thầy Thông Triệt làm sao mà dừng nói của ý thức?

• Thiền Thích Nhất Hạnh chánh niệm, Tĩnh thức và hạnh phúc an trú hiện tại tại đây. Thầy Thích Nhất Hạnh là người thiền sự nổi tiếng trên thế giới với tánh cách xuất rất ư thiền Trúc Lâm yên tử Việt Nam. Thiền của Thầy tùy duyên mà bất biến hòa hợp với đạo thiên chúa ở Pháp và nêu cao chánh niệm hạnh phúc hiện tiền v adieu phục tâm. Thầy đã canh tân mới kinh luận như sữa đổi Duy thức luận thành Duy Biểu luận, Bát Nhã tâm kinh viết lại, giảng rõ Tuệ trung thượng sỹ hay kinh Kim Cang, lấy Nguyên thủy làm căn bản mà mở rộng theo Đại thừa. Thầy sáng tạo nhiều cách thức thực hành chỉ riêng có ở Làng Mai với thơ văn phong phú, mọi hành thiền đều bằng thơ văn nhẹ nhàng và an lac thanh tịnh hạnh phúc. Thầy chủ trương kinh luận là hiểu bằng tâm nên nhẹ nhàng không lệ thuộc vào văn tự máy móc.Vì chính văn tự của kinh cũng không thực sự là văn tự của Phật. Thầy sửa đổi hầu hết kinh luận hiểu một cách mới như Phật thầy gọi là Bụt. Thầy giảng hầu hết kinh luận chứ không phải bất lập văn tự như Tổ sư Thiền. Người âu châu thích theo Thầy vì nó thực dụng và dễ hiểu, nó nữa là triết lý đạo Phật nữa là đạo đức sống sao được hạnh phúc. Thầy sửa đổi 3 pháp ấn vô thường vô ngã khổ thành vô thường vô ngã hạnh phúc Niết bàn.

• Thiền Thích Thanh Từ: Thấy vọng không theo, Thiền Tịnh song tu, phản quan tự kỷ. ĐỐI CẢNH VÔ TÂM CHỚ HỎI THIỀN (Sư Ông Trúc Lâm)(trích đoạn)

Việt Nam vào thế kỷ thứ mười ba. Vua Trần Nhân Tông, khi đi tu Ngài lên núi Yên Tử, lập một hệ phái tên là Trúc Lâm Yên Tử. Ngài có làm bài phú “Cư Trần Lạc Đạo”. Trong đó, câu chót thế này “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”. Nghĩa là đối với cảnh mà không có tâm dính mắc thì đừng hỏi thiền chi nữa, vì ngay đó là thiền rồi. Đối với cảnh mà tâm không dính mắc tức là chỗ kinh Kim Cang bảo sáu căn đừng dính với sáu trần. Do không dính mắc với sáu trần nên tâm an định. Đó là Thiền. 

Như vậy, Thiền của Thiền tông là cốt không cho tâm dính mắc với sáu trần. Đó là gốc, là đường lối căn bản của nhà Thiền. Trước khi xuất gia, vua Trần Nhân Tông đã được học với ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ. Khi sắp trở về lên ngôi Thái tử, Ngài hỏi Tuệ Trung chủ đích của thiền là gì? Tuệ Trung đáp thế này: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”, nghĩa là nhìn lại mình là phận sự chính, đừng chạy tìm bên ngoài. Quay lại ngay nơi tâm mình đó là bổn phận chính của người tu thiền, không thể hướng bên ngoài mà được. Ngay câu đó, nhà Vua lãnh hội được yếu chỉ thiền.

Phương hướng tu hành của Thiền tông không phải lấy kinh điển làm trọng yếu, mà phải biết xoay lại nơi mình để nhìn thẳng nội tâm, biết cái gì hư dối buông xả, cái gì chân thật nhận lại, chớ không có gì xa lạ hết. Tại sao tôi nói Thiền là cội gốc của đạo Phật? Bởi vì trong kinh A-hàm, đức Phật dạy người tu thiền phải quán Tứ niệm xứ. Quán Tứ niệm xứ là quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã. Bốn pháp quán ấy đều xoay lại mình, để thấy cho tường tận. Như vậy tu thiền theo giáo lý Nguyên thủy cũng phải phản quan.

Còn nếu tu thiền theo kinh Kim Cang thì không cho sáu căn dính mắc với sáu trần. Rõ ràng kinh Phật từ hệ Nguyên thủy cho đến hệ Bắc tông đều dạy phải xoay lại, tự quán chiếu chính mình và tự gìn giữ, đừng để tâm phóng theo sáu trần. Cho đến kinh Lăng Nghiêm thuộc Bắc truyền, có một đoạn kể lại ngài A-nan bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, cái gì là cội gốc của sanh tử luân hồi? Cái gì là cội gốc của Bồ-đề Niết-bàn?” Đức Phật im lặng. Lúc đó mười phương chư Phật đồng thanh bảo rằng: “Cội gốc luân hồi sanh tử là sáu căn của ông. Cội gốc Bồ-đề Niết-bàn cũng là sáu căn của ông.”

Như vậy, từ kinh Phật cho đến đường lối Thiền tông rất phù hợp, rất thích ứng với nhau. Vì vậy chúng tôi mới quả quyết Thiền tông là cội gốc của đạo Phật. Có một Thiền khách đến gặp vị Thiền sư trưởng lão, hỏi:

– Bạch Ngài, thế nào là Phật tánh?

Vị trưởng lão đáp:

– Như một con khỉ được nhốt trong lồng có sáu cửa. Bên ngoài một con khỉ khác đứng kêu “Chéo! Chéo!” để đáp lại con khỉ trong lồng cũng kêu “Chéo! Chéo!”

Nghe tới đó, vị Thiền khách hỏi:

– Nếu con khỉ bên trong ngủ thì sao?

Ngay lúc ấy, Thiền sư liền nắm vai, nói:

– Chúng ta đã thấy nhau rồi!

Đó là câu trả lời cho câu hỏi thế nào là Phật tánh. Bởi tâm chúng ta như con khỉ chuyền nhảy lăng xăng không dừng, cho nên gặp cảnh ngoài thì dính với cảnh ngoài. Bao giờ nó dừng lặng tức con khỉ bên trong ngủ, thì con khỉ ở ngoài dù có kêu mấy nó cũng yên lặng, không trả lời. Đó là Phật tánh hiển lộ.

Trích “THIỀN TÔNG LÀ CỘI GỐC CỦA ĐẠO PHẬT” – Thiền Sư Thích Thanh Từ. Tương tự cùng Thích Nhất Hạnh xuất thân từ Thiền Trúc Lâm Yên Tử, Thích Thanh Từ hòa hợp với nhu cầu Tịnh Độ của Phật tử Vietnam.  

• Thiền công án: Thich Duy Lực , Nguyệt Khê, Thiền sư Genjo Marinello chùa Dai Bai Zan Cho Bo Zen Ji tại Seattle viết: Công án là các câu hỏi, hay các câu trả lời không ăn nhập với nhau nhưng thách thức đối với con người bạn, đối với cái khái niệm nền tảng nhất về tự ngã của bạn. Công án như vũ khí sắc bén đâm vào tự ngã và từ đó tuôn trào ra Phật Tánh. Công việc của bạn không phải là tác chiến hay vật lộn với các cú tấn công này, mà là trung hòa chúng.Công án (kung an) xuất phát từ Trung Quốc, tiếng Nhật gọi là Koan, có nghĩa là nguyên tắc chung. Trong Thiền tông, các công án được dùng như chất xúc tác để đánh thức bản chất sâu thẳm, trong sạch của bạn. Công án thường kể lại một cuộc gặp gỡ giữa thầy và trò, trong đó, câu hỏi hay câu trả lời của vị thầy nhằm khai mở bản chất sâu thẳm của vạn pháp như chúng là. Có lẽ, công án điển hình, sớm nhất là công án về câu chuyện, khi Đức Phật Thích Ca không nói một lời, đưa cành hoa sen lên trước hội chúng. Lúc đó, tất cả hội chúng đều im lặng, ngơ ngác không hiểu, chỉ trừ tôn giả Ca Diếp mỉm cười.Công án là một công cụ cao cấp, không có sức mạnh siêu nhiên ẩn tàng nào nhưng lại có thể giúp hành giả giác ngộ khi thực hành đúng đắn. Tôi từng nghe Thiền sư Genki gọi chúng là ‘cách mở nắp lon’ cho Tâm của bạn.Công án chỉ nên được dùng sau khi bạn đã vào được chánh định. Chánh định là trạng thái của tâm khi tất cả ý niệm, suy nghĩ, cảm thọ, phán đoán… đã im bặt, và tâm đã trở nên sáng tỏ, lặng lẽ, phản chiếu một cách tự nhiên, trôi chảy tự do trong khoảnh khắc này. Nếu tâm bạn chưa đắc định, thì đừng tu tập gì với công án. Công án sẽ quậy lên dòng nước của tâm, và nếu tâm đang có sẵn sự hỗn loạn thì pháp tham công án sẽ chỉ làm cho mọi chuyện tệ hơn. Đó là lý do vì sao Thiền sư Genki chỉ trao cho công án trong khi vào các kỳ nhập thất Sesshins (có sách dịch là nhiếp tâm, tiếp tâm, một kỳ thất dài nhiều ngày. LND) trong đó học nhân dễ nhập định hơn.Công án sẽ KHÔNG được giải đáp. Bất kỳ đáp ứng mô tả nào: kiểu có/không, hay kiểu cái này/cái kia… đều sẽ bị bác bỏ. Thường thường, công án không cần gì tới lời nói ngôn ngữ. Một vài cử chỉ đột khởi cũng là đủ rồi. Đó là lý do vì sao tôi nói công án không được trả lời, nhưng được giải quyết.Để tham một công án có nghĩa là để một công án hoạt động trong bạn. Khi một mức độ chánh định đã đạt được, bạn đưa công án vào tâm. Cách khởi công án thích hợp nhất là nêu câu hỏi một cách dịu dàng nhưng liên tục vào ý thức. Đừng mất thì giờ tìm cách hiểu công án. Hãy để nó đưa tâm của bạn xuyên qua chất vấn này, và đừng có nỗ lực nào giải đáp nó. Bất kỳ phân tích nào cũng chỉ làm uổng phí thì giờ, và tận cùng kiểu đó chỉ cao lắm là sản xuất ra một câu trả lời kiểu Thiền giả mạo. Công án là một khí cụ nhắm tới chỗ diễn dịch, giải thích, bắt chước hay phân tích của chúng ta mà đánh vào; và rồi, chỉ sau khi chúng ta cạn kiệt hay là buông bỏ hết mọi kiểu khảo sát, điều tra loại đó, thì một mức độ thâm sâu hơn của tham cứu mới có thể dò tới được.Chỉ khi nào chúng ta có thể thú nhận rằng chúng ta không biết gì hết, thì pháp tham công án chân thực mới bắt đầu được. Hãy để công án trong bụng của bạn, nơi đó có thể khởi đầu như là bạn đã nuốt một quả cầu sắt nóng, tới nỗi nó không thể bị tiêu hóa hay trục xuất đi. Thực tế, đôi khi sau nhiều năm tu tập, công án sẽ làm phần việc của nó, tâm bạn sẽ mở ra trong sự hiểu biết sâu thẳm.Công án là các câu hỏi, hay các câu trả lời không ăn nhập với nhau nhưng thách thức đối với con người bạn, đối với cái khái niệm nền tảng nhất về tự ngã của bạn. Công án như vũ khí sắc bén đâm vào tự ngã và từ đó tuôn trào ra Phật Tánh. Công việc của bạn không phải là tác chiến hay vật lộn với các cú tấn công này, mà là trung hòa chúng.Bất cứ khi nào một công án khởi lên trong tôi, trước khi vào độc tham (tham vấn riêng giữa Thầy và trò), tôi để mặc cho nó trôi mất đi; đó là bảo đảm tốt nhất rằng [cái] đáp ứng khởi lên trong khi độc tham, hay trước mặt vị Thầy, sẽ là [một đáp ứng] tươi mới. Thường thì, đáp ứng mà tôi trình trong buổi độc tham gần giống như phản ứng lúc đầu của tôi. Tuy nhiên, bằng cách buông bỏ các đáp ứng đầu tiên và kế tiếp đó, công án có cơ hội tốt nhất để mở rộng hiểu biết của bạn vào trong sự hiển lộ đầy đủ nhất.Thí dụ, khi trả lời công án “Cái gì là tiếng vỗ của một bàn tay”, bạn có thể hiểu nó là sự VẮNG LẶNG: niềm vắng lặng tịch diệt bao trùm khắp vũ trụ, cái tự thân là Đạo. Nhưng những hiểu biết có phần suy lý này không nói được gì cả. Khi xem như là một đáp ứng, thì nó đã chết từ lâu. Làm cách nào bạn cảm nhận niềm vắng lặng tịch diệt này trong từng mảnh thân tâm bạn, và khi điều này được kinh nghiệm một cách trực tiếp, thì làm cách nào bạn sẽ hiển lộ được kinh nghiệm của bạn để cho vị Thầy hài lòng? Hãy can đảm, đừng ngồi yên và đông lạnh; ít nhất hãy nói, “Con không biết”. Bất kỳ đáp ứng nào bị Thầy bác bỏ đều sẽ khép lại một ngõ hẹp không tới đâu, hay là sẽ đẩy bạn tới một vài hướng mới. Từ từ, vị Thầy sẽ giúp bạn gạt bỏ mọi đáp ứng, chỉ trừ một phản chiếu thuần tịnh trong trẻo về cái đang được hướng tới. Mỗi công án đòi hỏi một đáp ứng riêng biệt, độc đáo, trong khung của câu hỏi. Nếu một công án hệt như một tay quyền đánh vào đầu, thì sẽ vô dụng khi đáp ứng bằng cú đá vào ống quyển. Nếu Thầy đòi có một quả táo, hãy mang tới đủ thứ riêng của bạn; nhưng hãy hiểu rằng một quả cam hay một ổ bánh mì sẽ không đáp ứng được.Công án được xem như hạt giống của tỉnh ngộ. Đôi khi cần một thời gian dài lâu để trưởng dưỡng sự gian nan, có khi thời kỳ trưởng dưỡng này ngắn và trực tiếp. Muốn giải quyết trọn vẹn một công án, bạn phải để cho nó lớn lên trọn vẹn; một công án phải được tự hiển lộ. Để nuôi dưỡng và chăm sóc cho một công án, một cách đơn giản và liên tục, bạn hãy kích vào cái chăm chú tỉnh biết của bạn, cái cốt tủy của “câu hỏi” hay của “cuộc trực diện” đó.Thí dụ, nếu công án là “Hãy mang cho tôi tự tánh của tiếng chuông chùa” thì trước tiên, chúng ta phải sửa sọan cái nền đất nơi mà công án sẽ được trồng vào bằng cách nhập định (tình trạng khi tâm bạn hoàn toàn tự nhiên, tĩnh lặng, quân bình, và tỉnh giác tròn đầy). Một khi sự an định đã thiết lập (ở các oai nghi: đi, đứng, ngồi, nằm…), chúng ta trồng công án một cách liên tục và chăm chú bằng việc đưa công án vào sự tỉnh giác, và đặt nó an nghỉ trong bụng mình noi huyet Dan Dien. Nơi đó, nó sẽ mọc lên và lớn dậy mà không cần thêm bất kỳ nỗ lực nào.Trong thí dụ đi tìm tự tánh của tiếng chuông chùa, chúng ta hãy để cho tiếng chuông chùa vọng lên trong bụng noi huyet Dan Dien, cho tới khi nó có thể trôi ra khỏi người chúng ta mà không có bất kỳ phân biệt suy lý nào. Vào khoảnh khắc tỉnh ngộ, quả chín của công án sẽ tự nhiên đứt rời khỏi chúng ta như là một đáp ứng rõ ràng mà không chút màu mè nào về “nó” hay “tôi”. Lúc đó, không có gì tách rời giữa hành giả và tiếng chuông; chúng sẽ là một, mà không có can thiệp nào từ ý thức phân biệt.Qua nhiều năm tu tập công án với nhiều Thiền sư khác nhau, tôi đã hiểu rằng công án có thể chia làm 5 loại khác nhau. Thực sự, cũng có thể chia chi tiết thêm nhiều nhóm phụ nữa, nhưng xét đến tận cùng tất cả cách chia đều vô nghĩa, một công án chỉ là một công án thôi.

1. Một số công án đòi hỏi sự buông bỏ các hàng rào giữa bạn và thiên nhiên chung quanh. Những công án như hãy mang cho tôi tiếng mưa rơi, tự tánh của đóa hoa, hay một ngọn núi trên một sợi dây thừng, tất cả đều đẩy học nhân vào hướng của sự tỉnh giác mở rộng.

2. Các công án khác thì đòi hỏi hành giả buông bỏ các rào cản khái niệm và giả tạo đang dựng lên giữa chính bạn và Phật. Các công án như, hãy mang cho tôi tự tánh của pho tượng [Phật] đứng trên bàn thờ kia, hãy đưa cho tôi xem yếu nghĩa việc làm của Thiền Sư (Câu Chi, Sư Ngạn, Lâm Tế…); hay là khi hàm răng của ông cắn vào cành cây giữa bờ vực mà tay chân đều không bám đâu được, làm sao ông trả lời một câu hỏi chân thành xin giải bày pháp yếu (Chân Lý/ Ý chỉ tổ sư)?..

3. Một số công án đòi hỏi hành giả mở hết các cửa về đời người bằng cách yêu cầu “hãy mang tới cho ta tự tánh của lão già (hay [của] phụ nữ, đứa trẻ, hài nhi, thằng bịp, tên ngốc, pháp sư, nhà sư, thầy giáo, cái chết, sự sinh, bạn hữu, kẻ thù, niềm vui, nỗi buồn…)”.

4. Một số công án đòi hỏi hành giả hiển lộ Đạo trong tự thân (nền tảng của Thực Tại, cái vượt qua sinh tử, qua tướng và vô tướng, qua đúng và sai, âm và dương, nam và nữ, và qua mọi nhị nguyên khác).

5. Cuối cùng, có những công án đòi hỏi hành giả hiển lộ các hành vi bình thường. Các công án đẩy chúng ta vào lối này có thể là yêu cầu “hãy hiển lộ chân tánh của khắp pháp giới trong khi rửa chén,…”.

Tất cả các công án đều đòi hỏi chúng ta tỉnh ngộ hiện tiền, và sống trọn vẹn với cái hiện tiền đó mà không còn màng lọc nào giữa chúng ta và phần còn lại của thực tại. Khi thiền công án được tu tập đúng hướng, chúng ta sẽ khám phá rằng chính đời sống chúng ta là công án lớn nhất của mọi công án. Bất kỳ trở ngại hay hoàn cảnh nào có vẻ như tách rời chúng ta xa khỏi chính chúng ta, hay xa khỏi bất kỳ ai hay bất kỳ vật gì khác, đều có thể được dùng như một công án. Hãy đưa trở ngại hay nan đề đó vào tâm bạn, như cách đã mô tả trên, và chờ cho nó chín cây, và rụng xuống mà không cần tìm cách sửa chữa, thay đổi hay phân tích. Bạn sẽ khám phá rằng tất cả các trở ngại đề là ảo giác của kiểu này hay kiểu khác của tâm.

Để thấy thực tại một cách rõ ràng là hãy gỡ bỏ hết mọi rào cản bên trong bạn, giữa tự ngã của bạn và mọi thứ khác với nó. Tam Tổ của Thiền Tông nói rằng không hề có gì cách biệt hay bị lọai trừ, vạn pháp vẫn chuyển động và đan vào nhau mà không phân biệt gì.

Thí dụ, tôi thường bị ám ảnh bởi nhiều loại niệm cứ dường như lập đi lập lại không ngừng; nhưng rồi, nếu tôi lui lại khỏi các loại niệm đó, hay là [lui khỏi] nỗi đau đớn, và giữ nó một cách dịu dàng và chăm chú trong bụng hay trên đùi, rồi trong một trật tự tương đối ngắn thì đợt sóng niệm hay nỗi đau đớn đó sẽ tan biến đi, đôi khi lại hiển lộ ra bằng một câu chuyện hay một chân lý trước đó chưa thấy. Cũng có lúc, sự nhẹ gánh này chỉ là tạm thời, có khi là vĩnh viễn, nhưng luôn luôn với sự tỉnh giác chăm chú thì nó có thể giải quyết xong, hay ít nhất là đã có tiến triển trong thực hành. Một lần, tôi được hỏi là có phải đáp ứng với một công án thì y hệt như đóng kịch không, và tôi nói: “Vâng, y hệt như đóng kịch giỏi, nơi mà, trong sự chân thành thuần tịnh, không có gì cách biệt giữa người diễn viên với vai mà anh ta đang đóng”.

Kết luận

Nghiên cứu quá sâu rộng vì thiền là đạo Phật. Tóm lược để có một cái nhìn tổng quan về thiền và tu tập theo thiền. Theo chiều dài của lịch sử đạo Phật ta nhận ra được thiền đi từ đức Phật ngồi thiền dưới cội bồ đề đến thiền ngày nay. Nguyên thủy dạy ta căn bản Phật thiền trong tiến trình giác ngộ của đức Phát đạt được 9 định 4 thiền quán.Từ đó qua đại thừa thiền đi sâu rộng hơn phát triển mạnh hơn. Đại thừa thiền chia ra khán tâm và kiến tánh. Khán tâm thì có thiền theo các Bồ tát tu tập mà quán chiếu lấy căn bản là phải đạt định rồi mới quán chiếu. Định có được theo thiền Nguyên thủy. Quán theo các Bồ tát lấy 6 căn 6 trần 6 thức và 7 đại mà quán chiếu Vô sanh pháp Nhẫn là tu theo Bồ Tát. Có tu theo Bồ tát thì mới đồng bộ synchronize với năng lượng của các ngài mà cầu nguyện tha độ cho chúng ta. Kế tiếp thiền khán tâm có tu theo kinh gồm có Hoa nghiêm Lăng nghiêm và Pháp hoa, tất cả sau khi định rồi quán chiếu theo cốt lõi của tụng kinh mà tu tập. Sang đến thiền kiến tánh gọi là Thiền tông thì cũng theo chiều dài lịch sử mà có được. Thiền Tổ sư thiền đến lục tổ Huệ Năng rồi Lâm tế Tào động mà đi dần đến ngày nay. Đầu tiên là đốn ngộ với Tổ sư thiền bất lập văn tự làm chính. Sau một thời gian đốn ngộ này chưa đủ thuyết phục nên đẻ ra tiệm ngộ kèm theo. Đốn ngộ rồi tiệm tu làm chính nên có thiền Thích Nhất Hạnh và Thích Thanh Từ. Thiền ngày nay chấp nhận có tiệm tu là học kinh Phật chứ không có bất lập văn tự nửa. Thiền Tánh không và thiền Công án vẫn còn giữ bất lập văn tự. Cho rằng văn tự làm cho ý thức phân biệt phát triển thì che mờ tánh giác sẵn có trong ta. Vô niệm làm tông, Vô tướng làm thể, Vô trụ làm gốc. Đã là vô niệm thì không học kinh luận là điều hiển nhiên. Ngày nay việc này được giải thích khác một chút. Tuy vô niệm nhưng cũng cần có cấy vào A Lại Da thức chủng tử của Phật pháp bằng ý thức học hỏi Phật pháp kinh luận, rồi từ đó dùng thiền định mà xóa ý thức phân biệt để tự tâm mình bậc lên Chân tâm Phật tánh mà ngộ đạo. Nếu Đốn ngộ là sự vận hành của thức: Chứng tự Chứng phần của ý thức theo duy thức luận, bằng trực giác thì chúng ta cũng cần phải có trong Tàng thức ta một số chủng tử Phật pháp do học tập kinh luận. Tương tự lục tổ Huệ Năng cũng đắc đạo nhờ câu kinh Kim cang Ưng vô sở trụ nhân sanh kỳ tâm do ngủ tổ Hoàng Nhẫn dạy. Tóm lại Thiền là đạo Phật là phuơng tiện thiện xảo đến giác ngộ tuy có nhiều cách khác nhau nhưng vẫn giữ căn bản Giới Định Tuệ làm cơ bản. Vũ trụ vạn vật luôn luôn động thay đổi nên tâm ta cũng vậy, thiền là điều khiển tâm ta dừng lại bất động để ngộ đạo ra vạn pháp là thật tướng của chúng như mặt biển đang sóng bởi gió mỗi sắc na. Thiền làm cho gió ngừng thổi bằng định, sóng không còn, mặt nước lặng yên nên trong suốt và từ đó ta quán chiếu nhìn xuống đáy nước mà nhận rõ ra được đáy nước có gì là tuệ giác là chân lý tâm của chúng ta.

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật !!

Quý vị xem trọn các bài viết về Dòng sông tâm thức của Cư sĩ Phổ Tấn

Tham khảo: Vì đề tài quá nhiều bài viết về thiền nên xin tham khảo rất nhiều nguồn, không thể ghi ra chi tiết. Tất cả do google search mà thu tóm lược.

Chia sẻ bài này với bạn bè

Bình luận