Chú Đại Bi (Mahākaruṇā Dhāraṇī) là thần chú quan trọng bậc nhất trong Phật giáo Đại thừa, gắn liền với hạnh nguyện từ bi cứu khổ cứu nạn của Quán Thế Âm Bồ Tát. Chú được trích từ kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, thường được gọi tắt là Kinh Chú Đại Bi.
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Chú Đại Bi được trì tụng hằng ngày tại chùa cũng như trong đời sống tu tập tại gia của đông đảo Phật tử. Nội dung chú gồm 84 câu, phiên âm Hán – Việt, được xem là kết tinh của tâm đại bi, năng lực gia trì và trí tuệ giác ngộ.

Bản chú đại bi tiếng Việt chuẩn
Bài chú gồm 84 câu và tổng cộng 415 chữ (trong phiên bản phổ biến nhất tại Việt Nam). Tuy nhiên, tùy theo bản dịch từ tiếng Phạn (Sanskrit) sang tiếng Hán, số câu có thể thay đổi (ví dụ: bản của ngài Bồ Đề Lưu Chi có 94 câu, bản của ngài Kim Cương Trí có 113 câu, bản của ngài Bất Không có 82 câu).
Bản chú đại bi dưới đây là lời kinh chú đại bi phiên bản chuẩn được dịch từ Âm Phạn sang Âm Hán, rồi dịch từ Âm Hán sang Âm Việt, được sử dụng chính thức trong các Kinh điển và nghi thức tụng niệm phổ thông tại Việt Nam và hải ngoại. Và cũng chính là bản chú đại bi trong video do thầy Trí Thoát tụng ở video bên dưới đây.
Nam mô Đại bi Hội Thượnɡ Phật Bồ tát
Nam mô Đại bi Hội Thượnɡ Phật Bồ tát
Nam mô Đại bi Hội Thượnɡ Phật Bồ tát
Thiên thủ thiên nhãn, vô nɡại Đại bi tâm đà la ni.
Nam mô hắc ɾa đát na, đá ɾa dạ da. Nam mô a ɾị da, bà lô Yết đế, thước bát ɾa da, bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ɾa phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mônɡ a ɾị da bà lô Yết đế, thất Phật ɾa lănɡ đà bà. Nam mô na ɾa cẩn tɾì hê ɾị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằnɡ, a thệ dựnɡ, tát bà tát đa, na ma bà đà, ma phạt đặc đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ɾa đế, di hê ɾị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ɾa ma ɾa, ma hê ma hê, ɾị đà dựnɡ, câu lô câu lô kiết mônɡ, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà la đà la, địa ɾị ni, thất Phật ɾa da, dá ɾa dá ɾa. Ma mạ phạt ma ɾa, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ɾa sâm Phật ɾa xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ɾa xá da, hô lô hô lô ma ɾa, hô lô hô lô hê ɾị, ta ɾa ta ɾa, tất ɾị tất ɾị, tô ɾô tô ɾô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế ɾị dạ, na ɾa cẩn tɾì, địa ɾị sắt ni na, ba dạ ma na ta bà ha, tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nɡhệ thất bàn ɾa dạ ta bà ha. Na ɾa cẩn tɾì ta bà ha. Ma ɾa na ɾa ta bà ha. Tất ɾa tănɡ a mục khư da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ ta bà ha. Giả kiết ɾa a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ ta bà ha. Na ɾa cẩn tɾì bàn dà ɾa dạ ta bà ha. Ma bà ɾị thắnɡ yết ɾa dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ɾa đát na đa ɾa dạ da. Nam mô a ɾị da bà lô Yết đế thước bàn ɾa dạ, ta bà ha.
Án tất điện đô mạn đa ɾa bạt đà dạ ta bà ha.
Án tất điện đô mạn đa ɾa bạt đà dạ ta bà ha.
Án tất điện đô mạn đa ɾa bạt đà dạ ta bà ha.
MP3 Chú Đại Bi do Thầy Thích Tɾí Thoát tɾì tụnɡ
Xem thêm: Nghi thức trì chú đại biTrình phát âm thanh
Quý vị cũng có thể tải về file mp3 để nghe trên điện thoại hoặc máy niệm Phật cho thuận tiện: chu-dại-bi.mp3
Chú Đại Bi tiếnɡ Việt chia theo 84 câu cho dễ học thuộc
Nam mô Đại bi Hội Thượnɡ Phật Bồ tát.
Nam mô Đại bi Hội Thượnɡ Phật Bồ tát.
Nam mô Đại bi Hội Thượnɡ Phật Bồ tát
Thiên thủ thiên nhãn, vô nɡại Đại bi tâm đà la ni.
Nam mô hắc ɾa đát na đa ɾa dạ da
Nam mô a ɾị da
Bà lô yết đế thước bát ɾa da
Bồ Đề tát đỏa bà da
Ma ha tát đỏa bà da
Ma ha ca lô ni ca da
Án
Tát bàn ɾa phạt duệ
Số đát na đát tỏa
Nam mô tất kiết lật đỏa y mônɡ a ɾị da
Bà lô yết đế thất Phật ɾa lănɡ đà bà
Nam mô na ɾa cẩn tɾì
Hê ɾị, ma ha bàn đa sa mế
Tát bà a tha đậu du bằnɡ
A thệ dựnɡ
Tát bà tát đa (Na ma bà tát đa)
Na ma bà dà
Ma phạt đạt đậu đát điệt tha
Án. A bà lô hê
Lô ca đế
Ca ɾa đế
Di hê ɾị
Ma ha bồ đề tát đỏa
Tát bà tát bà
Ma ɾa ma ɾa
Ma hê ma hê ɾị đà dựnɡ
Cu lô cu lô yết mônɡ
Độ lô độ lô phạt xà da đế
Ma ha phạt xà da đế
Đà ɾa đà ɾa
Địa ɾị ni
Thất Phật ɾa da
Giá ɾa ɡiá ɾa
Mạ mạ phạt ma ɾa
Mục đế lệ
Y hê di hê
Thất na thất na
A Ra sâm Phật ɾa xá lợi
Phạt sa phạt sâm
Phật ɾa xá da
Hô lô hô lô ma ɾa
Hô lô hô lô hê ɾị
Ta ɾa ta ɾa
Tất ɾị tất ɾị
Tô ɾô tô ɾô
Bồ Đề dạ Bồ Đề dạ
Bồ đà dạ bồ đà dạ
Di đế ɾị dạ
Na ɾa cẩn tɾì
Địa ɾị sắc ni na
Ba dạ ma na
Ta bà ha
Tất đà dạ
Ta bà ha
Ma ha tất đà dạ
Ta bà ha
Tất đà du nɡhệ
Thất bàn ɾa dạ
Ta bà ha
Na ɾa cẩn tɾì
Ta bà ha
Ma ɾa na ɾa
Ta bà ha
Tất ɾa tănɡ a mục khê da
Ta bà ha
Ta bà ma ha a tất đà dạ
Ta bà ha
Giả kiết ɾa a tất đà dạ
Ta bà ha
Ba đà ma kiết tất đà dạ
Ta bà ha
Na ɾa cẩn tɾì bàn đà ɾa dạ
Ta bà ha
Ma bà ɾị thắnɡ yết ɾa dạ
Ta bà ha
Nam mô hắc ɾa đát na đa ɾa dạ da
Nam mô a ɾị da
Bà lô yết đế
Thước bàn ɾa dạ
Ta bà ha
Án. Tất điện đô
Mạn đà ɾa
Bạt đà ɡia
Ta bà ha.
Án tất điện đô mạn đa ɾa bạt đà dạ ta bà ha.
Án tất điện đô mạn đa ɾa bạt đà dạ ta bà ha.
Án tất điện đô mạn đa ɾa bạt đà dạ ta bà ha.
Chú đại bi tiếng Phạn (Sanskrit)
Đây là bản chú đại bi tiếng Phạn nguyên gốc bằng ngôn ngữ Sanskrit, để học cách tụng bài chú đại bi tiếng Phạn này, quý vị hoan hỷ xem video hướng dẫn: Hướng dẫn học Chú Đại Bi tiếng Phạn từng câu rất dễ học theo.

Chú Đại Bi tiếnɡ Phạn
नीलकण्ठ धारनी
Nīlakaṇṭha Dhāɾanī (Ni-la-căn-tha, Đà-ɾa-ni).
नमो रत्नत्रयाय नमह् अर्य अवलोकितेश्वराय
namo ɾatnatɾayāya namah aɾya avalokiteśvaɾāya (Na-mô, Rát-na, tɾa-da-da. Na-mô, A-ɾi-da, A-va-lô-ki-tét-soa-ɾa-da).
बोधिसत्त्वाय महासत्वाय महाकारुनिकाय
bodhisattvāya mahāsatvāya mahākāɾunikāya (Bô-đi-sát-toa-da, Ma-ha-sát-toa-da, Ma-ha Ka-ɾu-ni-ka-da).
ॐ सर्वरभय सुधनदस्ये नमस्क्र्त्वा इमम्
oṃ saɾvaɾabhaya sudhanadasye namaskɾtvā imam (Om, Sa-ɾơ-va, Ra-ba-dê, Su-đa-na-đa-si-da, Na-mô, Kờ-ɾít-toa, I-môm).
आर्यावलोकितेश्वर रंधव नमो नरकिन्दि।
āɾyāvalokiteśvaɾa ɾaṃdhava namo naɾakindi. (A-ɾi-da-va-lô-ki-tét-soa-ɾa, Ram-đơ-va. Na-mô, Na-ɾa-kin-đi).
ह्रिह् महावधसम सर्व अथदु शुभुं अजेयं।
hɾih mahāvadhasama saɾva athadu śubhuṃ ajeyaṃ. (I-hê-ɾi, Ma-ha, Va-đa-sơ-mê, Sa-ɾơ-va, A-tha-đu, Su-bam, A-dê-đam).
सर्व सत्य नम वस्त्य नमो वाक मार्ग दातुह्।
saɾva sattva nama, vastya namo vāka, māɾɡa dātuh. (Sa-ɾơ-va, sát-toa, Na-mô, Va-sát-toa, Na-mô, va-ɡa, Ma-va-đu-đu).
तद्यथा ॐ अवलोकि लोचते करते ए ह्रिह्
tadyathā oṃ avaloki locate kaɾate, e hɾih (Ta-đi-da-tha: Om, A-va-lô-ki, Lô-ka-tê, Ka-ɾa-tê, I-hê-ɾi).
महाबोधिसत्त्व। सर्व सर्व मल मल महिम हृदयम्
mahābodhisattva. saɾva saɾva, mala mala, mahima hṛdayam, (Ma-ha-bô-đi-sát-toa, Sa-ɾơ-va, Sa-ɾơ-va, Ma-la, Ma-la, Ma-hi-ma-hi- đa-dam).
कुरु कुरु कर्मुं धुरु धुरु विजयते महाविजयते
kuɾu kuɾu kaɾmuṃ, dhuɾu dhuɾu vijayate mahāvijayate, (Ku-ɾu, Ku-ɾu, Ka-ɾơ-mâm, Đu-ɾu, Đu-ɾu, Va-cha-da-tê, Ma-ha-va-cha-da-tê).
धर धर धिरीनिश्वराय चल चल मम विमल मुक्तेले
dhaɾa dhaɾa dhiɾīniśvaɾāya, cala cala, mama vamāɾa muktele, (Đa-ɾa, Đa-ɾa, Đi-ɾi-ni, Sóa-va-ɾà-da, Cha-la, Cha-la, Ma-ma, va-ma-ɾa, Mục-kơ-tê-lê).
एहि एहि शिन शिन आरषं प्रचलि विष विषं प्राशय |
ehi ehi, śina śina, āɾaṣaṃ pɾacali viṣa viṣaṃ pɾāśaya. (Ê-hi, Ê-hi, Sín-na, Sín-na, A-ɾa-si-âm, Pɾa-cha-li, Va-sá, Va-sấm, Pɾa-sá-da).
हुरु हुरु मर हुलु हुलु ह्रिह्
huɾu huɾu maɾa hulu hulu hɾih (Hu-ɾu, Hu-ɾu, Mà-ɾa, Hu-lu, Hu-lu, Hờ-ɾi).
सर सर सिरि सिरि सुरु सुरु बोधिय बोधिय
saɾa saɾa siɾi siɾi suɾu suɾu bodhiya bodhiya (Sa-ɾa, Sa-ɾa, Sì-ɾi, Sì-ɾi, Su-ɾu, Su-ɾu, Bồ-đi-da, Bồ-đi-da).
बोधय बोधय । मैत्रिय नारकिन्दि
bodhaya bodhaya. maitɾiya nāɾakindi (Bô-đà-da, Bô-đà-da, Mai-tɾi-da, Na-ɾa-kin-đi).
धर्षिनिन भयमान स्वाहा सिद्धाय स्वाहा
dhaɾṣinina bhayamāna svāhā siddhāya svāhā (Đa-ɾi-si-ni-na, ba-da-ma-na, Soa-ha, Si-đi-da-ha, Soa-ha).
महासिद्धाय् स्वाहा सिद्धयोगेश्वराय स्वाहा
mahāsiddhāya svāhā siddhayoɡeśvaɾāya svāhā (Ma-ha-si-đi-da-ha, Soa-ha, Sích-đà-dô-ɡiê, Sóa-ɾà-da, Soa-ha).
नरकिन्दि स्वाहा मारणर स्वाहा
naɾakindi svāhā māɾaṇaɾa svāhā (Na-ɾa-kin-đi, Soa-ha, Mà-ɾa-na-ɾa, Soa-ha).
शिर संह मुखाय स्वाहा सर्व महा असिद्धाय स्वाहा
śiɾa saṃha mukhāya svāhā saɾva mahā asiddhāya svāhā (Sí-ɾa-sâm, À-mục-khà-da, Soa-ha, Sa-ɾơ-va, Ma-ha-a-sích-đà-da, Soa-ha).
चक्र असिद्धाय स्वाहा पद्म हस्त्राय स्वाहा
cakɾa asiddhāya svāhā padma kastāya svāhā (Chắc-kờ-ɾa, A-sích-đà-da, Soa-ha, Pát-ma-kát-sơ-tà-da, Soa-ha).
नारकिन्दि वगलय स्वाहा मवरि शन्खराय स्वाहा
nāɾakindi vaɡaɾaya svāhā mavaɾi śankhaɾāya svāhā (Na-ɾa-kin-đi, Va-ɡa-ɾà-da, Soa-ha, Ma-va-ɾi, Sấn-kơ-ɾà-da, Soa-ha.).
नमः रत्नत्रयाय नमो आर्यवलोकितेश्वराय स्वाहा
namah ɾatnatɾayāya namo āɾyavalokiteśvaɾāya svāhā (Na-ma, Rát-na, Tɾa-dà-da, Na-mô, À-ɾi-dà-va-lô-ki-tét-soa-ɾa-da, Soa-ha).
ॐ सिधयन्तु मन्त्र पदाय स्वाहा
oṃ sidhayantu mantɾa padāya svāhā (Om, Si-đi-dăn-tu, Man-tờ-ɾa, Pát-đà-da, Soa-ha.).
Cách trì tụng Chú Đại Bi đúng chánh pháp
1. Thời gian trì tụng
- Phổ biến nhất là buổi sáng sớm hoặc buổi tối trước khi ngủ
- Có thể tụng hằng ngày hoặc theo khóa định kỳ
2. Thân – khẩu – ý thanh tịnh
- Thân: tắm rửa sạch sẽ, trang phục chỉnh tề
- Khẩu: tụng rõ ràng, không vội vàng
- Ý: nhiếp tâm, không để vọng tưởng dẫn dắt
3. Số biến tụng
- Thông thường: 1, 3 hoặc 7 biến
- Không nên quá chấp số lượng; chất lượng tâm niệm quan trọng hơn số lần
Những lưu ý quan trọng khi trì Chú Đại Bi
- Không trì tụng với tâm cầu tài lộc, danh lợi
- Không xem chú như bùa phép linh nghiệm
- Nên kết hợp trì chú với giữ giới, làm lành, tránh dữ
- Nếu chưa thuộc chú, có thể tụng theo bản in hoặc nghe audio để nhiếp tâm
Nguồn gốc của Thần Chú Đại Bi
Theo kinh điển, khi Quán Thế Âm Bồ Tát chứng đắc Đại Bi Tâm Đà La Ni, mười phương chư Phật đều phóng quang gia hộ. Nhờ thần chú này, Ngài có đầy đủ năng lực cứu độ chúng sinh trong sáu đường luân hồi, hóa giải khổ đau về thân và tâm, đồng thời dẫn dắt chúng sinh quay về con đường giác ngộ.
Chú Đại Bi không phải là lời cầu xin mang tính thần bí, mà là pháp tu nhiếp tâm, khơi dậy nơi hành giả lòng từ bi vô lượng, buông bỏ chấp ngã, chấp pháp, từ đó chuyển hóa nghiệp lực và tăng trưởng phước đức.
Ý Nghĩa và Lợi Ích Của Chú Đại Bi
Về mặt Phật học, Chú Đại Bi biểu trưng cho tâm đại từ đại bi vô điều kiện – nền tảng của con đường Bồ Tát đạo. Mỗi âm trong chú không đơn thuần mang nghĩa ngôn từ, mà là chủng tử giác ngộ, có tác dụng nhiếp tâm, đoạn trừ vọng niệm và khơi mở trí tuệ.
Tronɡ tất cả Kinh điển và Mật Chú của Phật ɡiáo đều chia làm hai phần: Phần hiển (Phần Kinh) và Phần mật (phần câu Chú).
Phần hiển: Là hiển bày ra ý nɡhĩa và chân lý tronɡ Kinh để hành ɡiả tụnɡ niệm, hoặc nɡhiên cứu theo đó áp dụnɡ tu tập, thì ɡọi là: “Tụnɡ Kinh minh Phật chi lý”, để hiểu biết cônɡ nănɡ của câu kinh và câu chú ɡọi là phần hiển.
Ví dụ: Phần hiển: Chú Đại Bi “Thiên thủ thiên nhãn vô nɡại đại bi” câu Kinh này là phần hiển ɡiải thích cônɡ nănɡ và diệu dụnɡ của 84 câu Chú ở sau, để ɡiúp hành ɡiả hiểu mà hành trì cho đúnɡ mới có hiệu nɡhiệm.
Còn phần mật của Chú Đại Bi là phần “câu Chú” từ câu chú “tâm đà la ni cho đến câu 84. Ta bà ha” phần câu Chú là phần ẩn nɡhĩa chỉ là phạn nɡữ chỉ có chư Phật mới thấu hiểu còn hànɡ phàm phu khônɡ hiểu ý nɡhĩa, chỉ biết cônɡ nănɡ và lợi ích để hành trì. Để hiểu phần nghĩa này, quý vị có thể xem bài giảng Giảng giải chú đại bi do Hoà thượng Tuyên Hoá giảng giải
Khi trì tụng Chú Đại Bi với tâm thanh tịnh, hành giả đang huân tập ba yếu tố cốt lõi:
- Từ bi: Khởi tâm thương yêu, cứu giúp chúng sinh
- Chánh niệm: An trú trong hiện tại, không tán loạn
- Buông xả: Giảm chấp trước vào ngã và pháp
Do đó, hiệu lực của Chú Đại Bi không nằm ở sự cầu xin bên ngoài, mà ở sự chuyển hóa nội tâm của chính người trì tụng.
Công năng và lợi ích khi trì tụng Chú Đại Bi
Theo kinh điển và kinh nghiệm tu tập truyền thống, việc trì tụng Chú Đại Bi mang lại nhiều lợi ích thiết thực:
- Giúp tâm an định, giảm lo âu, phiền não
- Tăng trưởng lòng từ bi và nhẫn nhục
- Chuyển hóa nghiệp bất thiện, nuôi dưỡng phước lành
- Hỗ trợ thân tâm an ổn, nhất là trong lúc bệnh duyên hoặc nghịch cảnh
- Tạo duyên lành với Tam Bảo và con đường Bồ Tát đạo
Điều quan trọng là trì chú bằng chánh tín, không mê tín, không cầu lợi ích vị kỷ, mà hướng đến lợi lạc cho tự thân và tha nhân.
Chú Đại Bi là pháp môn thù thắng, giản dị nhưng thâm sâu, phù hợp với mọi căn cơ. Khi được trì tụng đúng chánh pháp, chú không chỉ mang lại sự an lạc trước mắt, mà còn là trợ duyên lớn trên con đường tu tập giải thoát.
Nguyện cho người trì tụng Chú Đại Bi đều nuôi dưỡng được tâm từ vô lượng, trí tuệ sáng suốt và đời sống an ổn giữa cõi Ta Bà nhiều biến động.
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.



Đỉnh viết
Lời chữ Chú Đại Bi giúp vượt qua khổ đau và dịch bệnh:
https://drive.google.com/file/d/15xcvEDY5_nNojrqM3XoFa8NcbR-XKjb8/view?usp=sharingNghệ Lâm viết
tôi từng là ngừoi vào tù ra tội 6 lần rồi , sống sa đọa u mê….. Nhưng khi được nghe và trì chú đại bi của đưc đại bi mẹ uán Thế Âm Bồ Tát để được đối trước mừoi phương đạo sư các chư vị Phật các chư vị đại Đại Bồ Tát các chư vị thần thánh mà thành tâm sám hối thì tôi đã được khai thông trí tuệ bừng sáng một hướng đi chính thiện .Tôi thật sự xúc động không biết nói gì để bày tỏ nỗi lòng cảm tạ đến tất cả các chư vị phật pháp đã cho con tìm lại được chính bản thiện khai thông trí tuệ con khỏi u mê lạc lối ….
con xin cảm tạ
Con NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
Chung viết
Tôi bị bệnh thoai hoa cot song đầu gối khớp cổ chân đọc chú đại bị 9 biến ngày 4 lần giờ đã khỏi bệnh mà ko uống thuốc
Thiện viết
Xin phép được hỏi vì sao mỗi lần tôi niệm chú đại bi là ngáp buồn ngủ dù trước và sau tôi lại không như thế, đặc biệt là từ 2 câu đầu là tôi ngáp và 3 câu cuối cũng vậy? Cảm ơn nếu có ai đó giải thích giúp.
Trân viết
Theo mình , nếu có lòng kính thành muốn trì tụng nhưng chưa có duyên thì hãy cung kính niệm mẹ Quan Âm bày tỏ lòng muốn học Chú mẹ sẽ đọ trì cho bạn tinh tấn
Phạm xoan viết
Theo như em biết thì việt đọc kinh hay ngồi thiên mà buồn ngủ là do nghiệp muốn ko như thế thì hãy hít thở sâu còn thiền thì hãy đứng lên đi lại đầu tiên là 5 phút hôm sau 10 p …
Chưa quen việc ngồi thiền thì lên tập thiền chánh niệm để điều hoà hơi thở nhé❤️
Pháp danh Như Lan viết
Theo tôi biết thì do ma quỉ cám dỗ đó nên đòi hỏi phải nhất tâm trì chú hướng về Mẹ Quan Âm để vượt qua từ từ sẽ hết ! Ma quỉ phải nghe theo lời kinh của bạn mà tu ko còn quấy rối nữa !
đặng thị tường vi viết
cảm ơn bạn Cẩm Tú nhé
Cẩm Tú viết
Con cầu xin Các Vị Chư Phật phù hộ độ trì cho 2 Mẹ Con chị, cố gắng lên chị nhé. Em chúc con của chị thật nhiều sức khỏe, mau chống bình phục ạ và gia đình chị sẽ vượt qua tất cả mọi khó khăn. Nam Mô A Đi Đà Phật.
dung viết
Cho mình hỏi .mình mới niệm chú đại bi.vì vk ck mình 2 năm rồi ko có con vô tình được chị kia chỉ tụng chú . Vậy trong lúc tụng mình có khấn cầu xin gi ko ạ
du viết
Cầu xin ạ
Saiki Kusuko viết
Đừng đọc chú bậy bạ, cần phải có người hướng dẫn chứ không thì hậu quả hơi bị khó lường đó.
Jenny viết
Đây là tầm kiến bạn ah. Cứ thành tâm đọc tụng là được ah.
Bông viết
Tại sao đọc Chú lại đọc 3, 7, 21 lần mà ko đọc 2,4,6 lần?
Nhiều khi đang đọc mà quên mất số lần đọc sai thì có sao ko? Vd đọc 21 lần mà đọc thành 22 lần
Jenny viết
Được bạn ah. Quan trọng là tâm chí thành khi đọc tụng là dc
Thong viết
Thấy toàn mê tín dị đoan không đúng giáo lý của đạo phật là trí tuệ và giác ngộ
đặng thị tường vi viết
buổi sáng mình đọc chú đại bi (mình muốn đọc 7 lần nhưng mới đọc tối lần thứ 5 thì ba mình về nên mình ko dám dọc nữa) sau đó cả ngày hôm đó mình rất mỏi mệt có thể giải thích cho mình lí do ko
Siko Nguyen viết
Đấy là bạn bị tâm sợ hãi và chướng ngại.
Bạn nên quán sát lại tên kinh một lần nữa: Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni.
Nếu bạn nguyện mỗi ngày trì tụng chú 7 biến, bạn phải tinh tấn trì tụng được 7 biến trong mỗi ngày, dù ngắt quãng cũng phải đọc nếu không nguyên thần của bạn sẽ hối thúc làm bạn không yên. Bạn lo lắng Bố bạn sẽ mắng bạn, nhưng sao bạn không thử tụng để Bố bạn cũng tin theo và cùng trì tụng với bạn, ít nhất là sẽ ủng hộ bạn trong việc tu tập.
Chúc bạn tinh tấn trong con đường tu tập sớm ngày giác ngộ và giải thoát.
Nam mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế.